Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây đậu phộng Cây đậu phộng (Arachis hypogaea L.) thuộc ngành Ngoc Lan (Magnoliophyta), lớp Song tử diệp (Dicotyledoneae), bộ Đậu (Fabales), họ Đậu (Fabaceae), chi lạc (Arachis) (Vũ Công Hau,1995). Cây đậu phộng có nguồn gốc xuất xứ từ Nam Mỹ (Phạm Văn Thiéu, 2000). Khởi thủy của loài đậu phộng trồng được nhiều tác giả công nhận ở Braxin, cũng có một số tác giả cho là ở Bolovia. Sau đó cây đậu phộng được phổ biến sang Châu Au, tới vùng bờ biển Châu Phi, Châu Á, tới quần đảo Thái Bình Dương và cuối cùng tới vùng Đông Nam Hoa Kỳ.
Hiện nay, cây đậu phộng được trồng ở hơn 100 nước trên thế ĐIỚI, VỚI diện tích khoảng 23 triệu ha (Phạm Văn Thiều, 2000) và được trồng nhiều ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ, Senegan, Indonesia, Nigeria, Myanma, Brazil, Argentina, Thái Lan, Việt Nam. Trong số 25 nước trồng đậu phộng ở châu Á, Việt Nam đứng thứ 5 về diện tích và được trồng ở khắp các tỉnh từ Bắc đến Nam, trên nhiều loại đất, với những điều kiện sinh thái khác nhau (Ngô Thế Dân và ctv, 2000). Đặc điểm thực vật học cây đâu phộng: Rễ: Gồm rễ cọc đâm sâu xuống đất bao quanh bởi một hệ thống rễ con và rễ phụ dày đặc phân bố chủ yếu ở lớp đất mặt từ 5 - 35 cm (Nguyễn Văn Binh, 1996). Thân: Đậu phộng thuộc thân thảo.
Khi còn non thân hình tròn nhưng khi già có hình góc cạnh, bên trong hơi rỗng xốp. Thân đậu phộng cấu tạo bởi 15 - 25 đốt, khi có hoa thì cây tăng trưởng nhanh và đến khi thu hoạch thì cây tăng trưởng chậm lại. Chiều cao của các giống cây đậu phộng trồng ở Việt Nam từ 30 - 75 cm, thích hợp trong sản xuất từ 30 - 40 cm, thân quá cao không thích hợp trong canh tác (Chu Thị Thơm, 2006). Cành: Khả năng đâm cành của đậu phộng là rất lớn, nhất là những giống thuộc loài Hypogaea (có thé có 4 - 7 cấp cành), loài phụ Fastigiata thường chỉ có 2 cấp cành với tông số cành 6 - 12 cành.
Các giống đậu phộng được trồng ở nước ta chủ yêu là các giống thuộc nhóm Spanish (loài phụ Fastigiata) (Phan Gia Tân, 2005). Lá: Lá đậu phộng thuộc lá kép lông chim, mọc cách, mỗi lá có 4 lá chét, có khi có 3 - 6 lá chét. Một cây có từ 50 - 80 lá, lá 3,4,5 và 6 có hoạt động sinh lý mạnh kể từ đỉnh sinh trưởng xuống dùng những lá này dé phân tích chuẩn đoán dinh dưỡng của cây. Hoa: Hoa lưỡng tính màu vàng, mọc thành chùm, mỗi chùm từ 2 - 7 hoặc 12 - 15 hoa mọc ở nách lá, các hoa trên chùm phát triển không đều.
Hoa đậu phộng 99% đều là tự thụ, nở hoa vào sáng sớm từ 5 - 10 giờ. Trái: Dạng hình kén, dai 1 - 8 cm, rộng 0,5 - 2 cm, một đầu dính vào thư đài khi khô thành cuống trái, đầu kia có dạng cong gọi là mỏ trái, ở giữa trái có eo thắt lại gọi là eo trái, vỏ có thé có gân tùy giống. Hạt: Có nhiều hình dạng khác nhau như bầu dục, tam giác hoặc tròn. Hạt có vỏ lụa bao bọc ở ngoai, màu sắc của vỏ lua thay đổi tùy theo giống: Hồng nhạt, trắng hoặc đỏ tím.
Có vân hoặc không và ít bi chi phối với điều kiện ngoại cảnh. Trong một trái có từ 1 - 6 hạt, thường là 2 hạt. Giống và điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng trực tiếp đến số hạt trong một trái (Đường Hồng Dat, 2007). Toàn bộ cây đậu phộng đều có giá trị sử dụng.
Sản phẩm chính là hạt, nó chứa nhiều dinh dưỡng nên từ lâu đã được con người sử dụng như một nguồn thực phẩm quan trọng (Nguyễn Mạnh Thản và Lại Đức Lân, 1982). Hạt đậu phộng là thức ăn giàu lipit, protein, vitamin và các khoáng chất đối với con người (Đoàn Thị Thanh Nhàn và ctv, 1996). Ngoài ra thân lá, khô đầu đậu phộng là nguồn thức ăn giàu đạm cho chăn nuôi. Trong khẩu phần thức ăn của gia súc, khô dầu đậu phộng có thể chiếm tới 25 - 30% (Phạm Văn Biên và Phạm Đăng Khoa, 1991).
Cây đậu phộng có kha năng cố định đạm rat tốt, là cây trồng có tác dung cải tạo, bồi dưỡng đất, có vị trí quan trọng trong hệ thống luân canh với nhiều loại cây trồng khác, cũng như việc chống xói mòn, phủ xanh đất trồng, đổi núi trọc (Lê Song Dự và Nguyễn Thế Côn, 1979). Khi đưa các cây họ đậu vào luân canh với cây lúa nước giúp cải thiện tính chất lý, hóa của đất một cách rõ rệt làm thay đối pH của đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, tăng lượng lân và kali dé tiêu trong đất. Cây đậu phộng có nhu cầu cao về đạm song nhờ hệ thống nốt san ở bộ rễ cung cấp một lượng đạm đáng kể. Tuy nhiên, nốt san của cây chỉ hình thành sau khi cây mọc 4 1 tuần, hơn nữa, hệ vi sinh vật trong nốt san có nhu cầu sử dung phân đạm dé phát triển nên cần bón đạm lót và thúc sớm dé đậu phộng phát triển ngay từ đầu va tạo nhiều nốt san hữu hiệu.
Trên các vùng đất bạc màu, nghèo dinh dưỡng nếu không bón phân đạm thì hệ vi sinh vật công sinh nốt san phát triển kém, vì vậy năng suất sẽ rất kém. Thiếu dam, thân lá có mau xanh vàng, lá nhỏ, kha năng vươn cao, đâm cảnh kém. Thiếu đạm trong giai đoạn đầu cây can cỗi, khó hình thành nốt san và ty lệ nốt san hữu hiệu thấp. Bên cạnh dam, lân có tác dụng kích thích bộ rễ phát triển, rất cần cho sự hình thành nốt san, tăng cường kha năng hút đạm của cây, thúc day ra hoa hình thành củ sớm, giảm tỷ lệ lép.
Do vậy lân cần được bón sớm. Thiếu lân xuất hiện sắc đỏ trên lá, thiếu nhiều lá chuyển qua màu nâu, cây còi cọc (Đỗ Thành Trung, 2010). Kali đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp và sự phát triển quả (củ) làm tăng số nhân, tăng tỷ lệ hạt chắc, tăng năng suất và hàm lượng dầu trong hạt. Hàm lượng kali trong lá cao nhất ở thời kỳ ngay trước ra hoa sau đó giảm đi ở thời kỳ hình thành củ.
Vì vậy cần bón kali sớm và kết thúc trước khi cây ra hoa. Thiếu kali xuất hiện những đốm vàng ở mép lá sau lan ra thành mảng và dần chết khô, thường ở lá non xuất hiện những vết đốm vàng nâu. Thiếu kali làm củ một nhân nhiều, tỷ lệ dầu thấp. Ngoài ra, canxi là một trong những yếu tô không thể thiếu khi trồng đậu phộng.
Bon vôi cho đậu phộng giúp làm tăng pH, tao môi trường thích hợp cho vi khuẩn có định đạm và là chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo quả và hạt. Cây hút canxi, magie mạnh nhất là thời kỳ đậu phộng đâm tia. Molipden (Mo) có tác dụng tăng hoạt tính vi khuẩn nót san, tăng khả năng đồng hóa nitơ. Bo (B) giúp quá trình phát triển rễ, tăng khả năng chịu hạn, giúp cho quả không bị nứt, hạn chế nắm bệnh xâm nhập.
Thiếu B làm giảm tỷ lệ đậu quả, hạt lép nhiều, sức sống hạt giống.2 Tình hình sản xuất đậu phộng trong và ngoài nước Tổng diện tích trồng đậu phộng của thế giới năm 2021 là 27.940,3 ha, đạt sản lượng 47.097,5 nghìn tan với năng suất bình quân 1,69 tân/ha. Trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021 thì năm 2020 có diện tích trồng đậu phộng lớn nhất là 27.955,1 ha với năng suất 1,61 (tan/ha); thấp nhất vào năm 2019, diện tích đạt 26.491,1 với năng suất 1,68 tắn/ha. Trên thế giới có trên 100 nước trồng đậu phộng, chủ yếu là vùng nhiệt đới và A nhiệt đới nhưng năng suất không cao. Trong đó, Trung Quốc và An Độ là hai cường quốc sản xuất đậu phộng trên thế ĐIỚI.
An Độ là nước có diện tích lớn nhất đạt 5.300,0 nghìn ha; Trung Quốc là 4.627,9 nghìn ha và Nigeria là 2. Năng suất biến động lớn giữa các nước trên thế giới. Nước có năng suất cao nhất trên thế giới là Israel đạt 7,39 tan/ha, tuy nhiên diện tích canh tác khá hẹp chỉ có 2. Trong giai đoạn từ năm 2017 đến 2022 diện tích đậu phộng tại Việt Nam có tổng diện tích sản xuất đậu phộng trung bình hàng năm trong giai đoạn 2017 - 2021 là 179.763 ha, năng suất trung bình là 24,7 tạ/ha và sản lượng bình quân của cả nước là 445.
Trong giai đoạn từ năm 2017 đến 2021 điện tích đậu phộng tại tinh Tay Ninh có tổng điện tích sản xuất đậu phộng trung bình hàng năm trong giai đoạn 2017-2021 là 4.787,02 ha, năng suất trung bình là 37,66 tạ/ha và sản lượng bình quân của cả nước là 17.3 Nhu cầu dinh dưỡng cho cây đậu phộng Thực vật nói chung và đậu phộng nói riêng rất cần các nguyên tố đa lượng là các nguyên tố đạm (N), lân (P), kali (K) và nguyên tô dinh dưỡng trung lượng là các nguyên tố canxi (Ca), magie (Mg), lưu huỳnh (S), silic (Si) ở dạng cây trồng có thé hap thu được. Ngoài ra, cũng cần các nguyên tố dinh dưỡng vi lượng là các nguyên té bo (B), coban (Co), đồng (Cu), sắt (Fe), mangan (Mn), molipđen (Mo), kẽm (Zn) là những nguyên tố cần thiết cho cây trồng sinh trưởng va phát triển. Trong lịch sử nông nghiệp, các cây họ đậu và phân chuồng là nguồn cung cấp đạm chính cho cây trồng. Trong đó lượng đạm được có định bởi các cây họ đậu có nốt san trung bình chiếm khoảng 75% tong lượng dam sử dụng bởi cây trồng.
Trong đó cây đậu phộng có định đạm khoảng 40%. Do đó, việc bón phân đạm cho cây đậu là rất quan trọng, có thé bón lót một lượng đạm nhỏ cho cây trong thời gian đầu dé đảm bao cho cây con của cây đậu có thé cung cấp đủ đạm cho đến khi các nốt san trong rễ hình thành do Rhizobium cộng sinh (Lê Văn Dũ, 1998). Hàm lượng CaO có trong thân lá, vỏ trái và hột đậu phộng lần lượt là 18,1; 25,3 và 3,61% trên tông số các chất khoáng. Số liệu này cho thay cây đậu phộng cần nhiều Ca.
Đất trồng thì nghèo Ca, trong khi nhu cầu của cây đậu phộng lại rất lớn mà nông dân ở đây còn ít biết sử dụng những dang phân này dé bón cho cây hoặc bón chưa đúng cach và đúng liều lượng. Có thé vì vậy mà năng suất của đậu phộng ở đây chưa cao va thường không 6n định.