Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây đậu phộng (Arachis hypogaea L.), hay còn gọi là cây lạc, là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao. Đậu phộng được sử dụng làm thực phẩm cho con người, chế biến thức ăn gia súc và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Bên cạnh giá trị kinh tế, cây đậu phộng có khả năng cố định đạm sinh học nhờ vi khuẩn nốt sần, đóng vai trò quan trọng trong việc cải tạo, bồi dưỡng độ phì đất và phục vụ các hệ thống luân canh, xen canh, gối vụ nhằm nâng cao hiệu quả canh tác. Tại tỉnh Tây Ninh, cùng với cây mía và sắn, đậu phộng là một trong những cây trồng cạn chủ lực. Tuy nhiên, năng suất đậu phộng thực tế tại địa phương vẫn thấp hơn nhiều so với năng suất tiềm năng của giống.

Nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế về năng suất bắt nguồn từ đặc tính nông hóa thổ nhưỡng của khu vực. Đất canh tác nông nghiệp tại huyện Trảng Bàng nói riêng và vùng Đông Nam Bộ nói chung phần lớn là đất xám bạc màu phát triển trên nền phù sa cổ. Đất có phản ứng chua ít đến rất chua, dung tích hấp thu cation (CEC) thấp, hàm lượng chất hữu cơ nghèo, các chất dinh dưỡng đa lượng (N, P, K) tổng số và dễ tiêu đều ở mức rất thấp, đặc biệt hàm lượng canxi trao đổi trong đất rất nghèo. Trong khi đó, đậu phộng là cây trồng có nhu cầu canxi rất lớn cho quá trình hình thành nốt sần, phát triển quả và tích lũy nhân.

Việc bón vôi bổ sung canxi giúp nâng cao pH đất, cải thiện môi trường cho vi sinh vật cố định đạm hoạt động và hạn chế tỷ lệ quả lép, quả rỗng. Dù vậy, việc xác định liều lượng bón canxi trên đất xám bạc màu đòi hỏi sự chính xác cao: nếu bón thiếu sẽ không giải quyết được tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng và độ chua của đất, nhưng nếu bón thừa vôi sẽ gây hiện tượng đất bị bão hòa canxi, làm giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng khác và giảm năng suất đậu phộng. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, đề tài được thực hiện nhằm giải quyết bài toán định lượng canxi tối ưu cho cây đậu phộng trên loại đất này.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Xác định được lượng canxi phù hợp để cải thiện năng suất và hiệu quả kinh tế của cây đậu phộng trồng trên vùng đất xám Trảng Bàng, Tây Ninh.

Yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Bố trí thí nghiệm đồng ruộng, theo dõi đặc điểm sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và lượng toán hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức thí nghiệm.
  2. Thu thập, tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu thống kê đảm bảo độ tin cậy khoa học.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống đậu phộng VD2 và 4 mức bón canxi bổ sung dạng vôi bột (CaO).
  • Phạm vi không gian: Điểm thí nghiệm đồng ruộng tại huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
  • Phạm vi thời gian: Vụ Đông Xuân 2022 - 2023, từ tháng 02/2023 đến tháng 05/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Khung lý thuyết và tài liệu quy chuẩn

Nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học về sinh lý dinh dưỡng khoáng của cây họ Đậu (Fabaceae) và hóa học đất xám bạc màu. Cây đậu phộng đòi hỏi cân đối giữa các nguyên tố đa lượng (N, P, K), trung lượng (Ca, Mg, S) và vi lượng (Mo, B). Canxi là nguyên tố trung lượng không di động trong cây, được vận chuyển thụ động chủ yếu theo dòng thoát hơi nước và thẩm thấu trực tiếp từ dung dịch đất qua vỏ quả non vào hạt. Thiếu canxi dẫn đến tỷ lệ quả lép, quả rỗng tăng cao và hạn chế sự phát triển của vi khuẩn cộng sinh Rhizobium vigna.

Quy trình kỹ thuật và phương pháp theo dõi trong nghiên cứu tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành:

  • TCVN 7538-2:2005 (ISO 10381-2:2002): Tiêu chuẩn lấy mẫu đất thí nghiệm.
  • QCVN 01-57:2011/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống đậu phộng.
  • QCVN 01-168:2014/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại trên cây đậu phộng.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

  • Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm đơn yếu tố được thiết kế theo khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD) gồm 4 nghiệm thức, lặp lại 3 lần (tổng số 12 ô thí nghiệm).
  • Các nghiệm thức canxi:
    • C1 (Đối chứng): 200 kg CaO/ha
    • C2: 300 kg CaO/ha
    • C3: 400 kg CaO/ha
    • C4: 500 kg CaO/ha
  • Quy mô thí nghiệm: Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 20 m² (5 m x 4 m), tổng diện tích khu thí nghiệm thuần đạt 240 m² (chưa tính hàng bảo vệ và rãnh phân cách). Khoảng cách giữa các lần lặp lại là 0,7 m; khoảng cách giữa các ô là 0,5 m; xung quanh ô đắp bờ cao 0,2 m và rộng 0,3 m.
  • Vật liệu và vật tư nông nghiệp:
    • Giống đậu phộng: VD2 (nguồn gốc lai giữa dòng Li Đức Hoa với tổ hợp ICRISAT [Li Đức Hoa x (88396 x USD 54) F4-20], thuộc nhóm Spanish, chu kỳ sinh trưởng theo mô tả giống là 98 ngày, vỏ mỏng, khối lượng 100 hạt trên 50 g, tỷ lệ dầu 49%).
    • Nguồn canxi: Vôi bột Ninh Bình do Công ty Khoáng sản vôi Việt cung cấp, hàm lượng hoạt chất đạt 85% CaO.
    • Phân bón nền dùng chung cho tất cả các nghiệm thức: 40 kg N (tương ứng 87 kg phân đạm ure Phú Mỹ 46,3% N) + 90 kg P2O5 (tương ứng 562,5 kg phân lân Long Thành 16% P2O5, 20% CaO, 18% MgO) + 80 kg K2O (tương ứng 160 kg K2SO4 50% K2O, 18% S) + 5 tấn phân bò ủ hoai trên 1 hecta.
    • Kỹ thuật bón: Bón lót toàn bộ phân bò, phân lân, vôi theo nghiệm thức và 1/2 lượng phân đạm. Bón thúc lần 1 ở 15 ngày sau gieo (NSG) gồm 1/2 đạm còn lại kết hợp 1/2 kali; bón thúc lần 2 ở 45 NSG với 1/2 kali còn lại kết hợp làm cỏ, xới xáo và vun gốc.
    • Mật độ gieo trồng: Khoảng cách trồng 13 cm x 17 cm, gieo 1 hạt/hốc, độ sâu gieo 3 - 4 cm.
  • Phương pháp thu thập chỉ tiêu:
    • Chọn ngẫu nhiên 10 cây mẫu cố định trên 5 điểm chéo góc mỗi ô (2 cây/điểm) để theo dõi động thái tăng trưởng chiều cao cây, số lá/thân chính (định kỳ 10 ngày/lần từ 30 NSG đến khi ngừng sinh trưởng), số cành cấp 1, các chỉ tiêu về quả và năng suất.
    • Chỉ tiêu nốt sần được điều tra ở thời điểm 60 NSG trên 5 cây mẫu riêng biệt/ô: tách rễ, rửa sạch, đếm tổng số nốt sần và phân loại nốt sần hữu hiệu (kích thước lớn, gần rễ chính, dịch bào màu hồng).
    • Khối lượng sinh khối tươi và khô (sấy ở 70°C đến khối lượng không đổi) thu thập ở giai đoạn thu hoạch trên 5 cây/ô.
    • Sâu hại (sâu khoang, sâu xanh da láng) điều tra bằng khung 0,25 m²; bệnh hại lá (đốm đen, gỉ sắt) điều tra trên 10 lá kép từ gốc lên của 10 cây/ô.
    • Năng suất quả khô và khối lượng 100 quả, 100 hạt được xác định ở độ ẩm tiêu chuẩn 12%.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Dữ liệu thô được nhập và tính toán sơ bộ trên Microsoft Excel, phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định so sánh phân hạng trung bình bằng trắc nghiệm LSD ở mức ý nghĩa 5% và 1% trên phần mềm thống kê R phiên bản 4.2.2.

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu nghiên cứu bao gồm số liệu khí tượng thủy văn tỉnh Tây Ninh giai đoạn tháng 02/2023 - 05/2023; kết quả phân tích lý hóa mẫu đất tầng mặt (0 - 30 cm) trước thí nghiệm do Trung tâm Công nghệ và Quản lý Môi trường và Tài nguyên (Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh) thực hiện năm 2023; cùng hệ thống dữ liệu thực nghiệm đo đạc trực tiếp trên đồng ruộng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài qua 5 phần:

  • Giới thiệu sơ lược về cây đậu phộng: Nêu rõ nguồn gốc Nam Mỹ, vị trí phân loại thực vật học, hình thái rễ cọc có nốt sần cộng sinh, cấu tạo thân thảo, khả năng phân cành, đặc điểm hoa tự thụ phấn nở vào buổi sáng (5 - 10 giờ) và quá trình đâm tia tạo quả dưới mặt đất. Phân tích giá trị dinh dưỡng cao từ lipit, protein trong hạt và khả năng sử dụng phụ phẩm thân lá, khô dầu (chiếm 25 - 30% khẩu phần thức ăn gia súc).
  • Tình hình sản xuất đậu phộng: Tổng hợp số liệu sản xuất thế giới năm 2021 (diện tích 27.940,3 nghìn ha, năng suất trung bình 1,69 tấn/ha; Ấn Độ và Trung Quốc đứng đầu về diện tích); số liệu Việt Nam giai đoạn 2017 - 2021 (diện tích trung bình 179.763 ha, năng suất 24,7 tạ/ha); và diện tích đậu phộng tại Tây Ninh giai đoạn 2017 - 2021 (trung bình 4.787,02 ha, năng suất đạt 37,66 tạ/ha).
  • Nhu cầu dinh dưỡng: Khẳng định vai trò của đạm (nhờ nốt sần cung cấp khoảng 40 - 75% nhu cầu), lân, kali, canxi và các vi lượng Bo, Molypđen. Nêu dẫn chứng tỷ lệ CaO tích lũy trong thân lá đạt 18,1%, vỏ quả 25,3% và hạt 3,61%.
  • Các nghiên cứu về canxi: Tổng kết các công trình của Trang Từng và ctv (2004) tại Trà Vinh; Rezaul K. (2013); Võ Hoàn Hảo (2017) với mức bón 280 kg CaO/ha trên giống L14; Nguyễn Phi Trường (2017) với mức 500 kg vôi kết hợp 140 kg P2O5 tại Dương Minh Châu; Mai Hoàng Đạo (2020) với mức 360 kg CaO/ha.
  • Chất lượng đất xám bạc màu Tây Ninh: Đánh giá nguồn gốc hình thành từ đá mẹ chua và phù sa cổ, thành phần cơ giới nhẹ, khả năng giữ nước và dinh dưỡng kém, dễ bị rửa trôi, là cơ sở khoa học khẳng định sự cần thiết phải bón vôi cải tạo đất.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, đặc tính vật liệu và các bước tiến hành thực nghiệm:

  • Điều kiện thời tiết: Nhiệt độ trung bình các tháng dao động từ 27,4 - 29,9°C; độ ẩm không khí trung bình 69,0 - 84,0%; lượng mưa dao động từ 0,0 mm (tháng 3) đến 187,5 mm (tháng 5); tổng số giờ nắng đạt 952,3 giờ.
  • Đặc tính lý hóa đất thí nghiệm: Kết quả phân tích mẫu đất trước thí nghiệm cho thấy thành phần cơ giới gồm 66,1% cát, 24,4% thịt và 9,5% sét (sa cấu thịt pha cát). Đất có tính chất chua vừa với pH KCl đạt 4,32 và pH H2O đạt 5,72. Hàm lượng chất hữu cơ nghèo (1,57%); N tổng số đạt 0,074%; P2O5 tổng số đạt 0,060%; K2O tổng số đạt 0,061%; N-NO3 đạt 4,62 mg/kg; N-NH4+ đạt 1,50 mg/kg; P2O5 dễ tiêu đạt 40,0 mg/kg; K2O dễ tiêu đạt 38,0 mg/kg; hàm lượng canxi trao đổi rất nghèo, chỉ đạt 0,49%.
  • Quy trình kỹ thuật đồng ruộng: Mô tả cụ thể công tác cày bừa làm đất, lên luống cao 25 - 30 cm, kỹ thuật bón phân lót và thúc, quy trình xới xáo làm cỏ 3 lần (lần 1 ở giai đoạn 2 - 3 lá thật sau mọc 10 - 12 ngày; lần 2 ở 6 - 8 lá thật sau mọc 30 - 35 ngày xới sâu 5 - 6 cm sát gốc; lần 3 sau khi hoa rộ 7 - 10 ngày xới vun cao gốc), điều tiết tưới phun duy trì độ ẩm 65 - 70% độ ẩm tối đa đồng ruộng và phòng trừ sâu bệnh.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập được qua 14 bảng biểu chuyên đề, đối chiếu và thảo luận sâu:

  • Sinh trưởng thân lá: Chiều cao cây tăng nhanh nhất trong giai đoạn 30 - 50 NSG (tốc độ 1,07 - 1,31 cm/ngày) và chậm lại ở giai đoạn 50 - 70 NSG (0,44 - 0,52 cm/ngày). Tại thời điểm 70 NSG, chiều cao cây biến động từ 54,5 đến 57,8 cm; số lá trên thân chính biến động từ 20,8 đến 22,0 lá; số cành cấp 1 đạt từ 6,6 đến 6,9 cành/cây; thời gian từ gieo đến ra hoa 50% đạt 24,7 - 26,0 ngày và tổng thời gian sinh trưởng đạt 86,0 - 87,0 ngày. Tất cả các chỉ tiêu này đều khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các mức canxi thử nghiệm.
  • Khả năng tích lũy sinh khối: Khối lượng sinh khối tươi dao động từ 433,6 đến 535,9 g/5 cây và khối lượng sinh khối khô đạt từ 125,6 đến 136,9 g/5 cây. Nghiệm thức bón 300 kg CaO/ha đạt khối lượng sinh khối tươi và khô cao nhất, song sự sai khác này chưa đạt mức ý nghĩa thống kê.
  • Nốt sần bộ rễ: Tổng số nốt sần trên cây ở giai đoạn 60 NSG dao động từ 223,7 đến 250,8 nốt/cây (khác biệt không có ý nghĩa thống kê). Tuy nhiên, số nốt sần hữu hiệu có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê ở mức α = 0,05: mức bón 300 kg CaO/ha đạt cao nhất với 155,5 nốt/cây, vượt trội rõ rệt so với mức 500 kg CaO/ha (132,9 nốt/cây). Tỷ lệ nốt sần hữu hiệu dao động từ 59,4% đến 61,6%.
  • Sâu bệnh hại và đổ ngã: Mật độ sâu xanh da láng dao động từ 3,5 - 4,3 con/m²; mật độ sâu khoang dao động từ 2,3 - 2,7 con/m²; tỷ lệ bệnh đốm đen ghi nhận tại 55 NSG đạt 25,0 - 28,3%; tỷ lệ bệnh gỉ sắt tại 80 NSG đạt 29,3 - 33,7%; tỷ lệ đổ ngã dao động từ 22,8% đến 27,2%. Việc gia tăng lượng canxi không làm thay đổi có ý nghĩa thống kê các chỉ tiêu dịch hại và đổ ngã trên đồng ruộng.
  • Yếu tố cấu thành năng suất: Tổng số quả dao động từ 22,1 đến 24,5 quả/cây; số quả chắc dao động từ 19,0 đến 21,2 quả/cây; tỷ lệ quả chắc đạt 84,9 - 86,4%; cấu trúc quả chủ yếu là quả 2 hạt (chiếm 89,8 - 92,0%), quả 1 hạt chiếm 7,4 - 9,7%, quả 3 hạt chỉ chiếm 0,5 - 0,7%; khối lượng 100 quả đạt 124,7 - 131,3 g và tỷ lệ hạt/quả đạt 73,4 - 78,6% (đều không có sự sai khác thống kê). Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở khối lượng 100 hạt: mức bón 300 kg CaO/ha đạt 51,8 g, cao hơn có ý nghĩa thống kê (α = 0,01) so với cả 3 nghiệm thức còn lại (200 kg đạt 46,4 g; 400 kg đạt 45,6 g; 500 kg đạt 44,4 g).
  • Năng suất thực thu: Năng suất quả tươi thực thu đạt cao nhất ở mức bón 300 kg CaO/ha (9,4 tấn/ha), có ý nghĩa thống kê cao hơn mức 400 kg CaO/ha (8,7 tấn/ha) và mức 500 kg CaO/ha (8,3 tấn/ha). Năng suất quả khô thực thu cũng đạt đỉnh ở mức 300 kg CaO/ha (5,3 tấn/ha), vượt trội có ý nghĩa thống kê so với mức 400 kg CaO/ha (4,8 tấn/ha) và mức 500 kg CaO/ha (4,7 tấn/ha).
  • Hiệu quả kinh tế: Tổng chi phí đầu tư tăng dần từ 91,370 đến 94,629 triệu đồng/ha tương ứng theo lượng vôi bón. Mức bón 300 kg CaO/ha mang lại tổng thu cao nhất (159,000 triệu đồng/ha), lợi nhuận cao nhất (65,511 triệu đồng/ha) và tỷ suất lợi nhuận cao nhất (0,70).

Kết quả và đóng góp

Số liệu kết quả thực nghiệm tổng hợp

Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ tiêu cấu thành năng suất, năng suất thực thu và chỉ số kinh tế ghi nhận từ thí nghiệm:

Chỉ tiêu theo dõi Mức 200 kg CaO/ha (ĐC) Mức 300 kg CaO/ha Mức 400 kg CaO/ha Mức 500 kg CaO/ha Mức ý nghĩa thống kê (p)
Số nốt sần hữu hiệu (nốt/cây) 146,3^(ab) 155,5^(a) 140,5^(ab) 132,9^(b) p < 0,05 (*)
Tỷ lệ quả chắc (%) 86,0 86,4 84,9 86,0 Không có ý nghĩa (ns)
Khối lượng 100 quả (g) 130,7 131,3 127,2 124,7 Không có ý nghĩa (ns)
Khối lượng 100 hạt (g) 46,4^(b) 51,8^(a) 45,6^(b) 44,4^(b) p < 0,01 (**)
Tỷ lệ hạt/quả (%) 77,8 78,6 75,6 73,4 Không có ý nghĩa (ns)
Năng suất quả tươi thực thu (tấn/ha) 8,9^(ab) 9,4^(a) 8,7^(b) 8,3^(b) p < 0,01 (**)
Năng suất quả khô thực thu (tấn/ha) 5,0^(ab) 5,3^(a) 4,8^(b) 4,7^(b) p < 0,01 (**)
Tổng chi phí (triệu đồng/ha) 91,370 93,489 93,559 94,629 -
Tổng doanh thu (triệu đồng/ha) 150,000 159,000 144,000 141,000 -
Lợi nhuận thuần (triệu đồng/ha) 58,630 65,511 50,441 46,370 -
Tỷ suất lợi nhuận (lần) 0,64 0,70 0,54 0,49 -

(Ghi chú: Trong cùng một hàng, các số có ký tự chữ cái đi kèm khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê; giá bán quả khô tính toán là 30.000 đồng/kg).

So với công thức đối chứng (200 kg CaO/ha), nghiệm thức bón 300 kg CaO/ha giúp tăng năng suất quả tươi thực thu thêm 5,62% và tăng năng suất quả khô thực thu thêm 6,0%.

Giải pháp và đề xuất kỹ thuật

Tác giả đề xuất: Bước đầu có thể áp dụng mức bón 300 kg CaO/ha để gia tăng năng suất và hiệu quả kinh tế đối với giống đậu phộng VD2 gieo trồng trên nền đất xám bạc màu vụ Đông Xuân tại huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Đóng góp so với nghiên cứu trước

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm chuẩn xác khẳng định ngưỡng bón canxi tối ưu cho giống đậu phộng VD2 trong điều kiện canh tác cụ thể tại Trảng Bàng, Tây Ninh. Khóa luận chứng minh rằng việc tăng lượng canxi lên mức 400 - 500 kg CaO/ha không mang lại hiệu quả gia tăng sinh trưởng hay năng suất mà ngược lại làm giảm khối lượng hạt, giảm số nốt sần hữu hiệu và làm giảm năng suất thực thu cũng như tỷ suất lợi nhuận. Kết quả này củng cố và làm sáng tỏ nhận định của các nghiên cứu trước (như nghiên cứu của Võ Hoàn Hảo năm 2017) về hiện tượng bão hòa canxi khi bón vôi quá liều lượng trên đất xám.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện nghiêm túc nhưng tác giả cũng thẳng thắn chỉ ra các giới hạn nghiên cứu do điều kiện thực tế quy định:

  • Thí nghiệm mới chỉ được thực hiện trên 01 giống đậu phộng duy nhất là VD2 và trong phạm vi 01 vụ gieo trồng (vụ Đông Xuân 2022 - 2023) tại địa bàn huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
  • Do giới hạn về nguồn kinh phí và quỹ thời gian, đề tài chưa thể phân tích được khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng khoáng (N, P, K) trong các bộ phận sinh dưỡng của cây.
  • Chưa tiến hành phân tích các chỉ tiêu sinh hóa phẩm chất nông sản sau thu hoạch, cụ thể là hàm lượng protein và hàm lượng lipit (dầu) trong hạt đậu phộng ở các nghiệm thức canxi khác nhau.
  • Chưa tiến hành lấy mẫu và phân tích lại các đặc tính hóa lý tính của đất sau thí nghiệm để đánh giá tác động cải tạo pH, dung tích hấp thu và hàm lượng canxi tồn dư trong đất sau vụ canh tác.

Các hướng mở tự nhiên từ hạn chế trên bao gồm việc tiếp tục lặp lại thí nghiệm qua nhiều vụ canh tác, mở rộng trên các giống đậu phộng triển vọng khác và bổ sung đầy đủ các chỉ tiêu hóa sinh nông sản và dinh dưỡng đất.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn rõ rệt cho nhiều đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Nông học, Khoa học Cây trồng và Quản lý Đất đai: Khóa luận là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng đơn yếu tố theo khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD), kỹ thuật theo dõi các chỉ tiêu nông học theo quy chuẩn QCVN 01-57:2011/BNNPTNT và phương pháp phân tích phương sai thống kê (ANOVA, LSD) trên phần mềm R.
  • Kỹ sư nông nghiệp, cán bộ khuyến nông và nông dân sản xuất đậu phộng: Có thể tham khảo trực tiếp quy trình bón lót và bón thúc cân đối (N-P-K kết hợp 5 tấn phân bò hoai và 300 kg CaO/ha), quy trình chăm sóc xới vun 3 lần và điều tiết nước tưới cho đậu phộng vụ Đông Xuân trên vùng đất xám bạc màu Đông Nam Bộ.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất: Dữ liệu phân tích thổ nhưỡng chi tiết của đất xám Trảng Bàng tại Bảng 2.2 và chuỗi số liệu định lượng về động thái phản ứng của số nốt sần hữu hiệu, khối lượng hạt và năng suất thực thu theo các mức bón canxi tại các bảng từ 3.6 đến 3.14.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao mức bón canxi cao nhất (500 kg CaO/ha) lại làm giảm số nốt sần hữu hiệu so với mức bón 300 kg CaO/ha?
Trả lời: Dữ liệu tại Bảng 3.6 cho thấy số nốt sần hữu hiệu đạt đỉnh ở mức 300 kg CaO/ha (155,5 nốt/cây) nhưng giảm xuống còn 132,9 nốt/cây ở mức 500 kg CaO/ha (sự sai khác có ý nghĩa thống kê ở p < 0,05). Tác giả giải thích rằng việc nâng lượng canxi từ từ giúp điều chỉnh nâng pH đất lên mức thuận lợi cho hoạt động của vi khuẩn nốt sần Rhizobium vigna. Tuy nhiên, khi lượng vôi bón quá cao vượt quá ngưỡng pH tối ưu của đất, môi trường đất biến đổi không còn thích hợp làm suy giảm mật số vi khuẩn nốt sần, dẫn đến giảm số lượng nốt sần hữu hiệu trên rễ.

2. Giống đậu phộng VD2 sử dụng trong đề tài có nguồn gốc và đặc điểm nông học như thế nào?
Trả lời: Giống VD2 là con lai giữa dòng Li Đức Hoa với dòng lai của ICRISAT [Li Đức Hoa x (88396 x USD 54) F4-20] do Viện Nghiên cứu Dầu thực vật tuyển chọn và được công nhận giống quốc gia vào tháng 8/2002. Giống thuộc nhóm đậu Spanish, hạt to, vỏ lụa màu hồng sẫm, tỷ lệ dầu đạt 49%, khối lượng 100 hạt trên 50 g. Theo lý thuyết giống có thời gian sinh trưởng 98 ngày, nhưng trong điều kiện thí nghiệm thực tế vụ Đông Xuân tại Trảng Bàng, thời gian sinh trưởng ghi nhận chỉ từ 86,0 đến 87,0 ngày.

3. Mức canxi tối ưu 300 kg CaO/ha làm thay đổi năng suất quả tươi và quả khô thực thu như thế nào so với đối chứng?
Trả lời: Theo số liệu Bảng 3.13, ở mức bón 300 kg CaO/ha, năng suất quả tươi thực thu đạt 9,4 tấn/ha (tăng 5,62% so với mức đối chứng 200 kg CaO/ha đạt 8,9 tấn/ha); năng suất quả khô thực thu đạt 5,3 tấn/ha (tăng 6,0% so với đối chứng đạt 5,0 tấn/ha). Mức năng suất này khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức α = 0,01 so với các mức bón 400 kg CaO/ha (quả tươi 8,7 tấn/ha, quả khô 4,8 tấn/ha) và mức 500 kg CaO/ha (quả tươi 8,3 tấn/ha, quả khô 4,7 tấn/ha).

4. Khối lượng 100 hạt của giống đậu phộng VD2 biến động như thế nào qua các nghiệm thức?
Trả lời: Theo Bảng 3.12, lượng canxi bón ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê ở mức α = 0,01 đối với khối lượng 100 hạt. Khối lượng 100 hạt đạt cao nhất ở mức bón 300 kg CaO/ha (51,8 g), cao hơn hẳn mức bón đối chứng 200 kg CaO/ha (46,4 g), mức 400 kg CaO/ha (45,6 g) và mức 500 kg CaO/ha (44,4 g). Trong khi đó, khối lượng 100 quả (dao động từ 124,7 đến 131,3 g) và tỷ lệ hạt/quả (dao động từ 73,4 đến 78,6%) không có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê.

5. Lượng canxi bón có tác động làm giảm mật độ sâu hại và tỷ lệ bệnh hại lá chính hay không?
Trả lời: Kết quả theo dõi tại Bảng 3.7 và Bảng 3.8 cho thấy các mức bón canxi khác nhau không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với mật độ sâu hại cũng như tỷ lệ bệnh hại lá chính. Mật độ sâu khoang duy trì ở mức 2,3 - 2,7 con/m²; sâu xanh da láng từ 3,5 - 4,3 con/m²; tỷ lệ bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) ở 55 NSG biến động từ 25,0 - 28,3%; và tỷ lệ bệnh gỉ sắt (Puccinia arachidis) ở 80 NSG biến động từ 29,3 - 33,7%.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Quốc Quyền đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu thông qua thực nghiệm đồng ruộng nghiêm túc trên vùng đất xám bạc màu Trảng Bàng, Tây Ninh. Kết quả chỉ ra rằng mức bón 300 kg CaO/ha (sử dụng vôi bột Ninh Bình 85% CaO) trên nền phân bón 40 N + 90 P2O5 + 80 K2O + 5 tấn phân bò hoai là liều lượng tối ưu nhất cho giống đậu phộng VD2 trong vụ Đông Xuân. Mức bón này giúp tối ưu hóa số nốt sần hữu hiệu (155,5 nốt/cây), nâng cao khối lượng 100 hạt lên 51,8 g, đạt năng suất quả khô thực thu cao nhất 5,3 tấn/ha cùng mức lợi nhuận thuần 65,511 triệu đồng/ha (tỷ suất lợi nhuận đạt 0,70). Đây là cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc phục vụ việc hoàn thiện quy trình thâm canh đậu phộng bền vững và nâng cao hiệu quả kinh tế trên nền đất xám Đông Nam Bộ.