Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thu ngô sinh khối trong và ngoài nước 1.1 Tình hình sản xuất ngô sinh khối ngoài nước Ngô sinh khối là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Trên thé giới cây ngô sinh khối đứng thứ ba về diện tích (sau lúa mì và lúa nước), nhưng có năng suât và sản lượng cao nhât trong các cây ngũ côc. Lượng ngô tiêu dùng toàn cầu dự báo sẽ tăng 16% vào năm 2027, trong đó ngô dùng làm thức ăn chăn nuôi sẽ tăng từ 56% lên 58% vào năm 2027, chủ yếu tăng do nhu cầu thức ăn chăn nuôi ở các nước đang phát triển (FAO, 2018). Riêng châu Á, tỷ lệ ngô dùng làm thức ăn chăn nuôi sẽ chiếm khoảng 70% (Prasanna, 2018).
Hàng năm lượng ngô sinh khối xuất nhập khẩu trên thế giới khoảng 148-149 triệu tan, bằng 13,75 % tong sản lượng ngô sinh khối toàn cầu (1. Các nước xuất khâu ngô chính là Mỹ, Argentina, Brazil, Nam Phi, 12 nước thuộc Liên bang Xô Viết cũ. Các nước nhập khâu ngô chính là Ai Cập, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc, Mexico, một số nước Đông Nam Á (USDA, 2018). Tổng diện tích canh tác các loài cây trồng lấy sinh khối ở An Độ là 8,4 triệu ha (5,23% diện tích các loài cây trồng), ôn định trong 2 thập kỷ qua.
Hiện nay, toàn Ấn Độ mới chi đáp ứng được 54% tông chất xanh từ sản phẩm phụ sau thu hoạch cây trồng, trong đó chỉ 18% chất xanh được đáp ứng bởi các loại cỏ, và 28% được đáp ứng bởi các cây trồng khác nhau. Như vậy, An Độ đang thiếu 33,10% lượng thức ăn xanh, thiếu 11,41% các phế phụ phẩm chat khô và thiếu 64% thức ăn chăn nuôi khác. Sự mat cân đối cung cầu trên ngày càng xa nhau do tốc độ chăn nuôi gia súc tăng lên không ngừng, với tốc độ tăng số lượng 1,23% trong những năm tới. Cơ cấu đàn gia súc cũng đang thay đổi theo hướng tăng lượng gia súc nhai lại do tốc độ tăng trưởng ngành thịt loại này.
3 Hiện nay, toàn Ấn Độ mới có diện tích ngô sinh khối là 0,06 triệu ha, sản lượng 2,27 triệu tan và năng suất đạt 40 — 41 tan/ha (Kalra, 2018). Mỹ là nhà sản xuất và xuất khâu ngô lớn nhất thế giới, với sản lượng trong niên vụ 2019-2020 được chốt ở mức 346,0 triệu tan. Diện tích dành riêng dé trồng ngô thay đổi theo mùa, 90 triệu mẫu của đất Mỹ dùng để trồng ngô mỗi mùa. Tiêu thụ nội địa chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số và khoảng một nửa trong số đó được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi cho gia súc.
Sản lượng ngô hiện tại của Trung Quốc ước tính đạt 260,8 triệu tấn và hầu như chỉ được tiêu thụ trong nước trong khi quốc gia này là nước sản xuất ngô lớn đứng thứ 2 trên thế giới. Brazil là nhà sản xuất chính của nhiều loại cây trồng và là nước sản xuất ngô lớn thứ ba thé giới, trong số 102 triệu tan ngô ước tính mà đất nước sản xuất hàng năm, phần lớn sẽ được tiêu thụ trong nước (USDA, 2020). Sản lượng ngô thé giới niên vụ 2022/2023 đạt 1161,9 triệu tan, giảm 4,5% so với niên vụ 2021/2022 (1216,9 triệu tan), do san lượng ở các nước như Mỹ, Liên minh Châu Âu và Ukraine giảm (USDA, 2023). Sản lượng ngô của Mỹ đạt khoảng 353,8 triệu tấn, giảm 7,6% so với vụ trước (382,9 triệu tan), trong khi Trung Quốc dự kiến sẽ tăng thêm 0,5% lên 274 triệu tan.
Liên minh Châu Âu dự kiến sẽ giảm 23,6%, đạt 54,2 triệu tan, Ukraine đạt 27 triệu tan, giảm 35,9%. Ước tính sản lượng ngô ở Nam Mỹ tăng 8,6% đối với Brazil (126 triệu tan) và mức tăng 6,8% đối với Achentina (55 triệu tan) (USDA, 2023). Xuất khâu ngô thé giới niên vụ 2022/2023 dự kiến sẽ giảm 10,3%, từ 202,5 triệu tan trong niên vụ 2021/2022 xuống 181,6 triệu tan trong niên vụ mới, do xuất khẩu giảm từ Ukraine (giảm 35,1%), Liên minh Châu Âu (giảm 63,3%) và Mỹ (giảm 16%). Nguồn cung có thé xuất khâu của Nam Mỹ tăng 5,6% đối với Brazil với 47 triệu tan, trong đó xuất khâu của Achentina dự kiến sẽ tăng 12,3% với 4l triệu tan (USDA, 2023).
Nhiều nước trên thé giới như An Độ, Uc hay các nước thuộc khối Liên minh châu Âu đã chuyền sang sử dụng ngô sinh khối cho ngành chăn nuôi, chiếm ty trọng gan 50%. Xu hướng các nước như Uc, My, New Zealand, Án Độ đang mở rộng diện tích trồng ngô sinh khối dùng làm thức ăn chăn nuôi được thúc đây bởi kết quả nhiều nghiên cứu khoa học uy tín trên thế giới, theo đó, cho thấy ngô sinh khối có nhiều ưu điểm vượt trội để làm thức ăn thô xanh hàng đầu. Ngô sinh khối lấy được tất cả các bộ phận từ thân, lá, 4 bắp, đồng thời rất giàu chất xơ, nhiều protein và có hàm lượng dinh dưỡng cao, với chỉ số NDF phù hợp cho gia súc ăn cỏ. Nhờ những ưu điểm đó, ngô sinh khối đã trở thành loại cây chủ lực được chọn làm thức ăn ủ chua dùng cho chăn nuôi trên thế giới trong hơn 2 thập niên gần đây.2 Tình hình sản xuất ngô sinh khối trong nước Ngô sinh khối là nguyên liệu chính trong chế biến thức ăn chăn nuôi (khoảng 90%) song tỷ lệ ngô sinh khối trong tông số tỉnh bột khoảng 50% vì ở nước ta còn dùng thêm gạo gay, cám, bột săn.
Nhu cầu thức ăn chăn nuôi ở nước ta hiện nay rất lớn, mỗi năm Việt Nam nhập khâu trên 7-8 triệu tan ngô hạt và các sản phẩm từ ngô dé làm nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi (tương đương từ 1,7 tỷ đến 1,8 ty USD). Nhu cầu ngô Sẽ ngày một gia tăng mạnh vì ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi bò sữa nói riêng đang phát triển rất mạnh, kết hợp với ngành thủy sản cũng tiêu thụ một lượng ngô rất lớn làm thức ăn cho nuôi tôm, cá. Tại Việt Nam, do không có đồng cỏ tự nhiên, nên nước ta có nhu cầu rất lớn về thức ăn thô xanh cho gia súc ăn cỏ dé phục vụ mục tiêu đạt quy mô chăn nuôi 2,4 — 2,6 triệu con trâu, 6,5 - 6,6 triệu con bò thịt, 650 - 700 ngàn con bò sữa và 4 — 4,5 triệu con dê, cừu được nêu trong chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045 của Chính phủ. Tuy nhiên nước ta chỉ mới có hơn 50 ngàn ha trồng ngô sinh khối, năng suất từ 120-150 tan/ha/nam, chiếm tỷ lệ rất thấp trên tông diện tích gieo trồng của cả nước.
Ngoài ra, theo các chuyên gia, nếu tính trên định mức kinh tế kỹ thuật, cần có tong diện tích trồng cây thức ăn thô xanh vào năm 2030 lên gan 1 triệu ha thì mới đủ khối lượng thức ăn thô xanh (khoảng 55 triệu tấn) cho đàn gia súc ăn cỏ theo mục tiêu định ra (Tông cục Thống kê, 2017). Ở Việt Nam, cây ngô sinh khối đã và đang được mở rộng diện tích trồng làm nguồn thức ăn thô cho gia súc nhai lại. Ngô sinh khối đã được phát triển mạnh thời gian qua ở một số tỉnh như Thanh Hóa, Nghệ An, Vĩnh Phúc, Sơn La. Trong năm 2020, diện tích ngô sinh khối đạt trên 100.000 ha, sản lượng đạt gần 450.
Cây ngô sinh khối có ưu thé về năng suất chất xanh, hàm lượng protein cao và chịu khô hạn. Kết quả nghiên cứu ở các vùng sinh thái khác nhau trong cả nước cho thấy năng suất ngô sinh khối dao động 40-60 tan tươi/ha/vụ và có thé trồng 3 vụ/năm (Nguyễn Văn Tiến và cs, 2021). 5 Đầu năm 2022, Việt Nam nhập khâu 2,57 triệu tan ngô, trị giá trên 851,63 triệu USD, trong khi Việt Nam là đất nước nông nghiệp đã đạt được những thành tựu nhất định trong xuất khâu gạo nhưng lại được đánh giá là một trong những nước nhập khâu ngô lớn nhất khu vực Đông Nam A. Nguyên nhân của tình trạng trên là do Việt Nam có sự lo ngại vô hình, thiếu khoa học về tác hại của ngô biến đôi gen nên chưa trồng mạnh loại ngô này.
Đặc biệt là Việt Nam thiếu sự quyết liệt trong chính sách về nông nghiệp, bỏ qua việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên việc trồng ngô chỉ mang tính nhỏ lẻ, manh mún. Đi cùng với đó là năng suất thấp, diện tích ngô liên tục giảm. Năm 2014 diện tích trồng ngô cả nước đạt xấp xi 1,2 triệu ha, thì đến nay chỉ còn dưới 900. Sản lượng ngô chỉ đạt 4,6 triệu tan ngô hạt (năng suất trung bình 4,84 tắn/ha/năm), trong khi năng suất ngô ở Mỹ lên đến 10 - 11 tan/ha (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2022).2 Nghiên cứu khoảng cách trồng ảnh hưởng đến ngô trên thế giới và Việt Nam 1.1 Nghiên cứu xác định khoảng cách trồng Bằng nhiều phương pháp người ta đã không ngừng cải thiện được khoảng cách trồng ngô trên thế giới.
Khoảng cách giữa các hàng ngô là những vấn đề được nghiên cứu nhiều và sâu nhất trong các biện pháp canh tác ngô. Khoảng cách trồng phụ thuộc vào giống, mùa vụ và điều kiện canh tác. Mỗi giống đều có những đặc điểm riêng về sinh trưởng, phát triển như: sự phát triển của tán lá, chiều cao cây, sự phát triển của bộ rễ, nhu cầu dinh dưỡng, ánh sáng đều rất khác nhau, có giống ưa trồng dày, có giỗng ưa trồng thưa. Khi trồng ở khoảng cách quá thưa sẽ lãng phí đất, đồng thời xảy ra hiện tượng xói mòn ở những khoảng đất trống khi tán lá không che phủ tới, làm rửa trôi dinh dưỡng, cộng thêm vào đó là tình trạng cỏ dai mọc lấn at cây trồng khiến năng suất ngô giảm xuống tram trọng.
Ngược lại, nếu trồng với khoảng cách quá dày sẽ gây tình trạng cạnh tranh giữa các cây về dinh dưỡng, ánh sáng; mật độ quá ram rạp nền 4m độ tăng cao tao điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh hại phát triển mạnh cũng dẫn tới sự tụt giảm về năng suất. Nhưng nếu trồng ở khoảng cách phù hợp thì các cây được phân bó đều nhau hon, giảm tối da sự cạnh tranh giữa các cá thé về dinh dưỡng, ánh sáng và các yếu tô sinh trưởng khác, làm cơ sở giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt và cho năng suất tối ưu. 6 Mật độ gieo trồng có quan hệ mật thiết với năng suất ngô. Tại vùng Simmic, Rumani trong 2 năm (2009 và 2010) các nghiên cứu về mật độ gieo trong da duoc tién hành với các giống ngô lai Fundulea 475, Kamelias, Danubian, KWS 2376, Rapsodia va Kitty.
Trong ca hai năm ngô được gieo vào với 3 mật độ thi nghiệm là 40.000 cây/ha và 60. Kết quả cho thấy mật độ gieo trồng 60.000 cây/ha cho năng suất cao nhất 8.