Đặt vấn đề Trên thế giới cây ngô (Zea mays L.) là một trong ba cây lương thực quan trọng, cung cấp lương thực cho con người và thức ăn cho vật nuôi, nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp. Hiện nay, ngô đang được quan tâm đặc biệt với vai trò là nguồn nguyên liệu cho chăn nuôi và các ngành công nghiệp. Với ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế, cùng với tính thích ứng rộng và tiềm năng năng suất cao, cây ngô được hầu hết các quốc gia trên thế giới gieo trồng (166 nước) và diện tích ngày càng mở rộng. Năm 2014, sản xuất ngô thế giới đạt kỷ lục cả về diện tích, năng suất và sản lượng (diện tích 183,31 triệu ha, năng suất 56,63 tạ/ha và sản lượng 1.
So với năm 1961, năm 2014 năng suất ngô trung bình của thế giới tăng thêm 35,77 tạ/ha (từ hơn 19 lên 56,63 tạ/ha). Ở Việt Nam, ngô tuy chỉ chiếm 32,3% diện tích cây lương thực có hạt, nhưng có ý nghĩa quan trọng thứ hai sau cây lúa. Diện tích trồng ngô của nước ta chủ yếu tập trung ở vùng núi nơi có độ dốc cao, không chủ động nước tưới và ít thâm canh. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc được xem là vùng trồng ngô lớn nhất, chiếm 43,7% diện tích ngô của cả nước (Tổng cục thống kê, 2016) [28].
Tuy nhiên, năng suất ngô lại thấp so với tiềm năng năng suất của giống và không ổn định, dễ mất mùa khi gặp hạn và mưa lũ. Năng suất ngô trung bình của nước ta năm 2014 đạt 44,1 tạ/ha chỉ bằng 77,9% năng suất ngô bình quân thế giới (FAOSTAT, 2016) [42]. Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Đất đai của Yên Bái đa dạng về chủng loại, đất nông nghiệp chiếm tới 79,59% tổng diện tích tự nhiên, nhưng phần lớn diện tích là đất dốc.
Độ dốc trung bình 25 – 30%, có nơi độ dốc trên 45%. Cây trồng nông nghiệp trên đất dốc chủ yếu là cây ngô và cây sắn (diện tích trồng ngô trên đất dốc khoảng 13.000 ha/năm, chiếm 59,1 – 62,5% tổng diện tích trồng ngô). Năm 2015, diện tích trồng ngô của tỉnh Yên Bái là 28,23 nghìn ha, năng suất 32,9 tạ/ha, sản lượng 92,970 2 nghìn tấn (Niên giám thống kê tỉnh Yên Bái, 2016) [20]. Như vậy, ở tỉnh Yên Bái, cây ngô có diện tích sản xuất lớn nhưng năng suất còn thấp so với năng suất trung bình của cả nước.
Một trong những nguyên nhân năng suất thấp là do sản xuất trên đất dốc với kỹ thuật canh tác truyền thống, chưa áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, đặc biệt là trong đó sử dụng giống. Vì vậy, giải pháp tối ưu là cần liên tục đưa những giống ngô mới và áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất nhằm đảm bảo và nâng cao năng suất ngô hiện tại của tỉnh một cách bền vững, hiệu quả. Chọn tạo được những giống ngô cho năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng, để tìm ra được những giống ngô ưu việt nhất đưa vào sản xuất đại trà. Xuất phát từ lợi ích và nhu cầu thực tế hiện nay, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số tổ hợp ngô lai tại Thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái ”.
Mục đích của đề tài Chọn được tổ hợp ngô lai phù hợp với điều kiện sinh thái để đưa vào cơ cấu cây trồng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất ngô của tỉnh Yên Bái. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở bước đầu cho việc chọn giống ngô phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng. - Bổ sung thêm dữ liệu khoa học về các giống ngô lai mới phù hợp với điều kiện sinh thái vùng Tây Bắc.
Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài góp phần làm đa dạng tập đoàn giống ngô phù hợp với điều kiện sinh thái tại Yên Bái. - Đề tài góp phần chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, tăng năng suất và hiệu quả sản xuất ngô, khai thác tiềm năng đất đai, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho các hộ nông dân vùng miền núi. 3 C h ươ n g 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Sản xuất ngô ở nước ta hiện nay gặp phải rất nhiều những khó khăn do nhu cầu giống, mùa vụ, kỹ thuật canh tác.
Sản xuất ngô chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước. Hàng năm, Việt nam phải nhập khẩu hàng triệu tấn ngô chủ yếu phục vụ ngành chăn nuôi và 1 số ngành công nghiệp khác. Trong năm 2015, nước ta đã nhập khẩu 7,7 triệu tấn với tổng giá trị nhập khẩu hơn 1,6 tỷ USD. Chỉ tính trong 6 tháng đầu năm 2016, Việt Nam đã nhập 3,3 triệu tấn ngô tương đương 650 triệu USD giá trị nhập khẩu (Tổng cục Hải quan, 2016).
Vì vậy, việc chọn tạo và đưa vào thử nghiệm vào sản xuất những giống ngô lai mới có năng suất cao, ổn định và thích nghi với những vùng sinh thái khác nhau là vấn đề rất quan trọng góp phần đưa nhanh các giống ngô tốt vào sản xuất đại trà nhằm nâng cao năng suất, sản lượng ngô. Trong công tác chọn tạo giống cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng, việc tạo ra những dòng, giống có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận là cần thiết. Công việc khảo nghiệm và đánh giá các đặc tính nông sinh học của các giống mới đó được xem là một khâu quan trọng trước khi đưa vào sản xuất đại trà. Thông qua việc đánh giá sự sinh trưởng, phát triển, tiềm năng năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh và một số điều kiện bất lợi.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã kéo theo sự phát triển của các vùng sản xuất. Mục đích sản xuất ngô hàng hoá với sản lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường cần phải có những biện pháp hữu hiệu như đưa ra các giống ngô mới có nhiều ưu thế vào sản xuất thay thế các giống ngô cũ năng suất thấp. Vì vậy cần phải đánh giá một cách khách quan, kịp thời có cơ sở khoa học về những giống mới ở các vùng khác nhau nhằm đánh giá tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định, khả năng thích ứng, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận cũng như chất lượng và hiệu quả kinh tế của giống ngô mới. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 1.
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô là cây ngũ cốc lâu đời và phổ biến nhất trên thế giới mà không cây trồng nào sánh kịp về tiềm năng năng suất hạt, về quy mô và hiệu quả ưu thế lai. Cùng với những thành tựu mới trong chọn tạo giống ngô lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác cây ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước. Diện tích, năng suất và sản lượng của một số cây có hạt trên thế giới giai đoạn 2005 – 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2005 2010 2014 2005 2010 2014 2005 2010 2014 Năm Ngô 148,2 163,8 183,3 48,2 51,9 56,6 713,6 849,7 1038,3 Lúa nước 155,1 161,7 163,2 40,9 43,4 45,4 634,4 701,0 740,9 Lúa mỳ 219,6 217,1 221,6 28,5 30,0 32,9 626,7 651,9 728,9 Nguồn: FAOSTAT, 2016 [38] Từ năm 2005 - 2014, diện tích trồng ngô đã liên tục tăng, từ 148,2 lên 183,3 triệu ha. Năm 2005, diện tích ngô còn thấp hơn so với lúa mỳ và lúa nước, nhưng đến năm 2014 đã vượt so với lúa nước là 20,1 triệu ha.
Năng suất bình quân của ngô luôn vượt trên lúa nước và cao hơn nhiều so với lúa mỳ. Năm 2014, năng suất ngô đạt 56,6 tạ/ha, lúa nước là 45,4 tạ/ha và lúa mỳ là 32,9 tạ/ha. Sản lượng ngô năm 2005 đạt hơn 700 triệu tấn, đến năm 2014 5 đã vượt ngưỡng 1 tỷ tấn. So sánh với mức tăng của ngô thì lúa nước năm 2005 sản lượng đạt hơn 600 triệu tấn, đến năm 2014 tăng thêm hơn 1 triệu tấn.
Có thể nói cây ngô đã và đang chiếm vị thế quan trọng so với các cây có hạt trên thế giới nhờ vào những ưu thế vượt trội của nó. Cây ngô được trồng rộng rãi trên toàn thế giới, nhưng có sự phân bố không đồng đều giữa các châu lục. Do trình độ khoa học kỹ thuật và khả năng đầu tư kinh tế vào sản xuất ngô của mỗi châu lục là khác nhau nên diện tích, năng suất, sản lượng ngô giữa các châu lục trên thế giới có sự chênh lệch rất lớn.2: Sản xuất ngô của một số vùng trên thế giới năm 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Vùng (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Châu Mỹ 68,39 76,97 526,4 Châu Á 59,09 51,46 304,1 Châu Âu 18,75 69,02 129,4 Châu Phi 37,0 20,97 77,61 Châu Úc 7,85 82,0 6,44 Nguồn: FAOSTAT, 2016 [38] Châu Mỹ tiếp tục dẫn đầu về diện tích (68,39 triệu ha), năng suất (76,97 tạ/ha) và sản lượng ngô (526,4 triệu tấn). Nhờ quá trình cơ giới hóa sản xuất và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong khâu chọn, tạo giống, đặc biệt là ngô chuyển gen.
Tiếp đến là Châu Á, tuy nhiên năng suất chỉ đứng thứ 4 (hơn Châu Phi). Châu Úc có diện tích ngô thấp nhất (7,85 triệu ha) nhưng năng suất (82,0 tạ/ha) cao nhất. Diện tích trồng ngô của châu Phi khá lớn, đạt 37,0 triệu ha nhưng trình độ canh tác còn lạc hậu nên năng suất ngô chỉ đạt 20,97 tạ/ha, chỉ bằng 27,6% năng suất so với Châu Mỹ. 6 Theo số liệu của tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO), việc sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới đang có sự mất cân đối giữa cung và cầu dẫn đến tình trạng các nước nhập khẩu ngô tăng dần, các nước xuất khẩu ngô giảm dần từ nay đến những năm đầu thế kỷ XXI.
Xuất khẩu ngô đã đem lại nguồn lợi lớn cho các nước lớn sản xuất ngô như Mỹ, Trung Quốc, Brazil (Ngô Hữu Tình, 2003) [30]. Sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) Mỹ 33,64 107,32 361,091 Trung Quốc 35,98 59,97 215,812 Braxin 15,43 51,76 79,877 Mexicô 7,06 32,96 23,273 Ấn Độ 8,6 27,52 23,670 Đức 0,429 119,62 5,142 Hy Lạp 0,19 119,6 21,69 Ixaren 0,005 340,97 163,60 Nguồn: FAOSTAT, 2016[38] Hàng năm Mỹ là nước dẫn đầu xuất khẩu ngô chiếm khoảng 60 - 73% tổng lượng ngô thương mại thế giới (USDA, 2008) [43].