Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Giống là một tư liệu sản xuất sống, có quan hệ mật thiết với môi trường và chỉ có thể phát huy được tính ưu việt trong điều kiện trồng phù hợp. Chính vì vậy, trước khi đưa giống vào sản xuất cần phải tiến hành khảo nghiệm ở các mùa vụ khác nhau. Ngoài ra, để phát huy tiềm năng năng suất của giống yêu cầu những biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp.
Trong các biện pháp kỹ thuật canh tác, mật độ và phân bón là hai yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất của giống. Lựa chọn được mật độ trồng hợp lý sẽ giúp cho quá trình quang hợp của cây diễn ra thuận lợi hơn. Dinh dưỡng N, P, K cân đối ảnh hưởng rất lớn đến năng suất. Vì vậy nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của mật độ và tổ hợp phân bón N, P, K đến sinh trưởng phát triển, chống chịu, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất là cần thiết đối với giống ngô mới chọn tạo VN5885.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới * Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Diện tích, năng suất và sản lượng ngô trên thế giới có sự tăng trưởng không ngừng từ năm 2011 đến nay. So với năm 2011, năm 2014 diện tích đạt 183,32 triệu ha (tăng 6,42 %), năng suất đạt 55,7 tạ/ha (tăng 8,16%) và sản lượng đạt 1021,62 triệu tấn (tăng 15,07 %) (FAO, 2015)[45].1: Diện tích, năng suất và sản lượng ngô trên thế giới (2011- 2014) Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (Triệu ha) (Tạ/ha) (Triệu tấn) 2011 172,26 51,5 887,85 2012 178,55 48,9 872,80 2013 184,19 55,2 1016,74 2014 183,32 55,7 1021,62 (Nguồn: FAO, 2015)[45] Trong các quốc gia trồng ngô, Mỹ luôn chiếm vị trí đầu về diện tích và sản lượng, và là quốc gia có năng suất ngô cao nhất > 9,93 tấn/ ha, gần gấp đôi so với trung bình thế giới (5,48 tấn / ha). Năm 2014, sản lượng đạt 361,09 triệu tấn, chiếm 35,34% tổng sản lượng của thế giới, năng suất trung bình đạt 107,3 tạ/ha, gấp 1,93 lần năng suất trung bình của thế giới. Niên vụ 2014/2015 sản lượng vẫn được giữ vững dù cho diện tích trồng đã giảm đi 1 triệu ha và giảm đi 3 triệu ha so với niên vụ 2013/2014(USDA, 2014)[49], Niên vụ 2015/2016 ước tính đạt 345,49 triệu tấn (USDA, Apr 2016)[50].
Đứng thứ hai là Brazil với sản lượng ngô 84 triệu tấn và Ấn Độ trong năm 2016 đạt 21 triệu tấn (USDA, Apr 2016) [50]. Tuy nhiên, khi xét về năng suất thì Isarel là quốc gia có năng suất cao nhất thế giới đạt 340,98 tạ/ha, cao gấp 6,12 lần so với năng suất trung bình của thế giới (FAO, 2015)[45]. Ở châu Á, diện tích trồng ngô của Trung Quốc lớn thứ hai trên thế giới và năng suất ngô trung bình cao hơn trung bình của toàn cầu. Niên vụ 2013/2014 sản lượng đạt 218,5 triệu tấn và ước tính 2016 là 224,5 triệu tấn (USDA,Apr 2016) [50].
* Tình hình tiêu thụ ngô trên thế giới: Nhu cầu tiêu thụ ngô trên thế giới rất lớn, trung bình hàng năm tiêu thụ 6 trên 700 triệu tấn. Năm 2011, lượng ngô tiêu thụ ở Mỹ chiếm 85% tổng sản lượng ngô sản xuất trong nước và chiếm 34,45% lượng ngô tiêu thụ của thế giới. Niên vụ 2014/15, nhu cầu ngô trên thế giới lên đến 967,52 triệu tấn, và Mỹ là nước lớn nhất (296,81 triệu tấn) chiếm 30,68% nhu cầu tiêu thụ toàn thế giới(USDA, 2014)[49]. Theo USDA & ProExporter Network (USDA, 2014)[49], Tổng sản lượng ngô tại Mỹ trong năm 2013 - 2014 là 330,6 triệu tấn, trong đó 27,3% sản lượng dùng để sản xuất ethanol và những sản phẩm khác.
Theo IGC (Intenational Grains Council) (2016)[46], niên vụ 2015/16, tính đến 26/5 thì sản lượng ngô thế giới đạt 1003 triệu tấn, tồn kho từ niên vụ trước là 205 triệu tấn, trong đó dùng cho buôn bán là 129 triệu tấn và dùng cho tiêu thụ là 1003 triệu tấn. Theo Monsanto (2007)[31], Dự báo đến năm 2030 nhu cầu ngô thế giới tăng 81% so với năm 2000 (từ 608 triệu tấn lên 1. Niên vụ 2014/15, tổng lượng ngô nhập khẩu của châu Phi đạt 17 triệu tấn, tăng khoảng 300 nghìn tấn so với năm trước, tăng nhiều nhất ở Ai Cập và Ma- rốc, trong đó Kenya và Zimbabwe lượng ngô nhập khẩu giảm. Tại khu vực châu Mỹ La-tinh và vùng Ca-ri-bê, Mê-xi-cô là nước nhập khẩu ngô lớn thứ hai trên thế giới chỉ sau Nhật Bản.
Năm 2014, Mê-xi-cô nhập khẩu khoảng 11 triệu tấn ngô, tăng 500 nghìn tấn so với năm 2013 (Cục xúc tiến thương mại, 2014)[42]. Hàng năm, lượng ngô xuất khẩu trên thế giới khoảng trên 100 triệu tấn. Trong đó, Mỹ chiếm 37,38% các nước còn lại chiếm 62,62% (niên vụ 2014/15) (USDA, 2014)[49]. Braxin là nước đứng thứ 2 trên thế giới về sản xuất ngô với diện tích gieo trồng đạt 15,12 triệu hecta, sản lượng hơn 82 triệu tấn.
Sản phẩm ngô chủ yếu đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa dùng chế biến làm thực ăn chăn nuôi. Thị trường xuất khẩu ngô chủ yếu của Braxin là Iran chiếm 26,5%, tiếp theo là Việt Nam, Hàn Quốc, Ai Cập, Indonexia, Đài Loan, Malaixia, Nhật Bản, Maroc, Tiểu Vương quốc Ả Rập. Trong năm 2014, Braxin 7 xuất khẩu sang Việt Nam 2,957 triệu tấn đạt giá trị 725,5 triệu USD (Bộ Công thương, 2015)[41]. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô ở Việt Nam * Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Cây ngô được đưa vào Việt Nam vào khoảng nửa cuối thế kỷ 17 (Ngô Hữu Tình, 2009)[14].
Do ngô có nhiều đặc điểm quý nên dễ dàng được người Việt chấp nhận mở rộng sản xuất, ngô cũng được coi là một trong các cây lương thực chính, đặc biệt là ở các vùng cao không có điều kiện tưới. Từ năm 1945 đến 1955, Việt Nam chỉ dừng lại ở việc khuyến cáo về giống và kỹ thuật trồng như mật độ trồng thưa (do chưa sử dụng phân bón vô cơ), bón lót phân (chủ yếu phân chuồng), làm cỏ sớm, vun cao gốc, thụ phấn bổ khuyết, cắt cờ sau thụ phấn,. Giai đoạn 1955 – 1995, đã bắt đầu có những nghiên cứu cơ bản như điều tra thành phần loài phụ và giống ngô địa phương, thu thập các mẫu giống. Trên cơ sở đánh giá các mẫu giống địa phương, một số giống đã tiến hành chọn lọc phụ vụ sản xuất.
Giai đoạn 1996 – 2005, đây là giai đoạn mà hàng loạt các giống lai mới đã được công nhận và đưa vào sản xuất. Các giống lai thời kỳ này chủ yếu là lai đơn với tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt, đa dạng về thời gian sinh trưởng, khả năng thích nghi khá cao. Đó là LVN4, , LVN20, LVN 22, LVN23, LVN25, VN8960,LVN99, HQ2000,. Giai đoạn 2006 – nay, công tác chọn tạo giống ngô vẫn được đẩy mạnh, đã bắt đầu có những kết quả tốt trong việc tạo dòng đơn bội kép bằng nuôi cấy bao phấn.
Nhiều dòng triển vọng đã được tạo ra, bước đầu đã có các giống ngô nếp lai, ngô ngọt lai cho năng suất và chất lượng cao phục vụ sản xuất. Các giống lai đã được tạo ra trong giai đoạn này là LVN98, LVN145, LVN45, LVN14, LVN885, LVN37, LVN184, LVN146, HT119, VN5885. 8 Năm 2015, ngô của Việt Nam đạt 44,8 tạ/ha, diện tích là 1,2 triệu ha chiếm 12,4% tổng diện tích toàn khu vực Đông Nam Á và sản lượng là 5,28 triệu tấn chiếm gần 13% tổng sản lượng cả khu vực (Tổng cục thống kê, 2015)[47]. Tuy vậy, năng suất ngô của Việt Nam năm 2015 (44,8 tạ/ha) vẫn thấp hơn năng suất trung bình thế giới (55,6 tạ/ha).2: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (1.
Với sản lượng thu được 5,28 triê ̣u tấ n ngô năm 2015 thì có 5 – 10% được sử du ̣ng làm lương thực cho đồng bào dân tô ̣c và vùng cao miề n núi, còn la ̣i là dùng làm thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên sản lượng ngô hiện ta ̣i mới chỉ đáp ứng được khoảng 49% nhu cầ u chăn nuôi do đó hàng năm Viê ̣t Nam vẫn phải nhâ ̣p mô ̣t lượng lớn ngô từ nước ngoài, cụ thể năm 2015 Việt Nam phải nhâ ̣p 7,6 triê ̣u tấ n ngô để phu ̣c vụ và phát triể n chăn nuôi. Nguồn: Tổng cục thống kê, 2015[47].1: Diê ̣n tích, năng suất và sản lượng ngô Viê ̣t Nam 2012-2015 9 Có thể thấy sản lượng ngô ở Việt Nam tăng qua các năm nhưng vẫn không thể đáp ứng hết được nhu cầu tiêu dùng. Vì vậy, hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu một lượng lớn ngô từ các nước.
* Tình hình tiêu thụ ngô ở Việt Nam Ở nước ta, ngô là một trong những cây trồng quan trọng góp phần đảm bảo an ninh lương thực và là nguồn thức ăn chủ yếu phục vụ cho chăn nuôi. Năm 2013, giá trị nhập khẩu ngô là 0,67 tỷ USD đạt 0,5% trong tỷ trọng nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam, tăng 34,4% so với năm 2012. Năm 2014, lượng ngô nhập khẩu là 4,79 triệu tấn, tổng giá trị nhập khẩu là 1,22 tỉ USD, tăng 80,8% so với năm 2013 (Tổ ng cu ̣c Hải Quan, 2015)[15]. Trong niên vụ 2014/15, sản lượng ngô nhập khẩu ở nước ta giảm 21,82% so với niên vụ 2013/14.
Sản lượng ngô nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu từ các nước Ấn Độ, Braxin, Achentina và Hoa Kỳ, trong đó đứng đầu là Braxin trong cả hai niên vụ (927,68 nghìn tấn – niên vụ 2013/14 và 744,16 nghìn tấn – niên vụ 2014/15) (Bảng 1. Tính đến giữa tháng 5 năm 2016, nhập khẩu ngô ở nước ta đã là 2.719,42 tấn với giá trị 535,57 triệu USD (Tổng cục hải quan, 2016)[48].3: Tình hình nhập khẩu ngô ở Việt Nam năm 2013-2015 Tháng 5/2013 đến Từ tháng 5/2014 đến Nước tháng 4/2014 tháng 2/2015 Số lượng (1000 tấn) Số lượng (1000 tấn) Ấn Độ 771,63 329,16 Braxin 927,68 744,16 Thái Lan 198,49 10,62 Achentina 141,29 477,85 Campuchia 25,90 3,64 Lào 62,85 18,75 Hoa Kỳ 253,27 263,04 Tổng 2.875,22 Nguồn: Cục xúc tiến thương mại (2015)[43] 10 Trong những năm tới, sản xuất ngô ở Việt Nam cần chú trọng rất nhiều vào công tác chọn tạo giống mới và ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật vào trong quá trình sản xuất để nâng cao năng suất đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước. Kết quả nghiên cứu về phân bón trên thế giới và Việt Nam 1. Kết quả nghiên cứu về phân bón trên thế giới Đạm là yếu tố phân bón đầu tiên cần chú ý cung cấp cho cây ngô vì cây cần với lượng nhiều mà đất không cung cấp đủ, nhất là loại đạm dễ tiêu.