Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Trong những năm gần đây sản xuất ngô ở Việt Nam tăng lên nhanh nhờ sự phát triển ứng dụng khoa học công nghệ trong việc lai tạo các giống ngô lai mới có năng suất cao, chất lượng tốt, thời gian sinh trưởng phù hợp để phục vụ cho sản xuất nhằm thúc đẩy ngành chăn nuôi và công nghiệp chế biến. Sau khi chọn tạo ra một giống mới thì việc đầu tiên là khảo nghiệm, đánh giá các đặc tính nông sinh học của các giống mới đó là khâu rất quan trọng trước khi đưa vào sản xuất đại trà. Bắc Kạn là tỉnh miền núi có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển sản xuất ngô, tuy nhiên năng suất ngô của tỉnh vẫn còn thấp và thiếu tính ổn định, chưa tương xứng với tiềm năng cho năng suất của giống.
Canh tác ngô còn mang tính truyền thống, manh mún nhỏ lẻ, khả năng đầu tư thâm canh của người nông dân còn hạn chế. Các giống ngô lai được trồng chủ yếu trong tỉnh đều phải nhập khẩu từ các công ty nước ngoài…nên khả năng thích ứng của các giống ở mỗi vùng sinh thái sẽ khác nhau. Việc đưa các giống ngô lai mới có năng suất cao, thích ứng tốt với điều kiện ngoại cảnh của Bắc Kạn là hết sức cần thiết. Vì vậy, để phát huy được các đặc tính tốt của giống mới và tránh những rủi ro do giống không thích ứng với điều kiện sinh thái địa phương, trước khi đưa các giống ngô lai mới vào sản xuất đại trà tại một vùng nào đó, nhất thiết phải tiến hành đánh giá một cách khách quan, có cơ sở khoa học về những giống mới ở các vùng khác nhau nhằm đánh giá tính đồng nhất, tính ổn định, tính thích ứng, khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh, sâu bệnh hại và hiệu quả kinh tế.
Do đó, khảo nghiệm là một trong những khâu rất quan trọng trong công tác giống. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Trên thế giới ngô là cây lương thực đứng thứ 3 sau lúa mì và lúa nước với diện tích 184,80 triệu ha, sản lượng 1. Trong những năm gần đây nhờ vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật việc áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất đã làm tăng năng suất và sản lượng ngô lên đáng kể được thể hiện chi tiết tại bảng 1.
Tình hình sản xuất ngô trên Thế giới giai đoạn 2010 - 2014 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2010 163,94 51,93 851,30 2011 171,27 51,78 886,92 2012 178,57 48,89 873,15 2013 185,59 54,65 1. cho thấy năm 2010 diện tích 163,94 triệu ha sau 05 năm diện tích tăng lên 184,80 triệu ha. Có được kết quả trên, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải tiến các biện pháp kỹ thuật canh tác đã góp phần đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước. Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam Ở Việt Nam, cây ngô được trồng trên những điều kiện sinh thái khác nhau của cả nước.
Là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa, là cây trồng chính để phát triển ngành chăn nuôi. Cây ngô không chỉ cung cấp lương thực cho người, vật nuôi mà còn là cây trồng xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh có 6 điều kiện kinh tế khó khăn. Với giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao, cùng với tiềm năng cho năng suất cao, cây ngô sẽ tăng mức thu nhập cho người nông dân, từ đó đáp ứng được mục tiêu quan trọng là xóa đói giảm nghèo. Cây ngô giúp sử dụng đất đai có hiệu quả, phá thế độc canh cây lúa.
Với một nền nông nghiệp lúa nước trước kia, cây ngô thường được xem là cây nông nghiệp bổ sung. Nhưng hiện nay, với yêu cầu chuyển đổi, đa dạng hóa cây trồng, việc phát triển cây ngô là phù hợp. Đi đôi với việc tăng năng suất, chất lượng của cây ngô là việc chuyển đổi những vùng đất không thích hợp đối với trồng lúa sang cây trồng có hiệu quả hơn là ngô. Cây ngô góp phần trong công cuộc chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hóa, an toàn, bền vững và đa dạng hóa.
Sản xuất ngô phát triển sẽ làm giảm lượng ngô nhập khẩu, tiết kiệm được ngoại tệ cho ngân sách Nhà nước. Đây là một chỉ tiêu cần thiết trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn phát triển, rất cần tiết kiệm nguồn vốn cho đầu tư phát triển các vấn đề khác cấp thiết hơn. Những đóng góp của cây ngô trong nền kinh tế thế giới nói chung, nước nước việt Nam nói riêng là rất lớn. Chính vì thế, cây ngô đã trở thành đối tượng quan tâm của các nhà khoa học và hoạch định chính sách, nhằm ngày càng khai thác nhiều hơn những lợi ích của cây ngô để phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của con người.
Tuy nhiên năng suất ngô ở nước ta trước đây rất thấp so với năng suất ngô của thế giới, do sử dụng giống ngô địa phương và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế. Sản xuất ngô ở Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm và đến nay đã đạt được những thành tựu lớn. Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam giai đoạn 2012 - 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2012 1.225,6 (Nguồn: Tổng cục thống kê, 2017) [14] Diện tích trồng ngô của nước ta có sự biến động, năm 2012 diện tích 1.156,6 nghìn ha đến năm 2016 đạt 1. Năng suất năm 2012 đạt 43,0 tạ/ha đến năm 2016 tăng lên 45,3 tạ/ha [14].
Sản lượng ngô ở nước ta tăng khá nhanh, song nhu cầu nguyên liệu để chế biến thức ăn chăn nuôi tăng với tốc độ cao hơn nên vẫn phải nhập khẩu. Mặc dù năng suất ngô năm 2016 đã đạt 45,3tạ/ha, song nếu so với năng suất trung bình của thế giới, đặc biệt là năng suất ngô của các nước phát triển thì năng suất ngô của Việt Nam còn rất thấp so với năng suất bình quân của thế giới (năm 2016 năng suất ngô của Việt Nam bằng 80,6% so với năng suất bình quân của thế giới năm 2014). Những nguyên nhân chính làm năng suất ngô ở Việt Nam thấp là do ngô chủ yếu được trồng trên đất dốc (> 60% diện tích), sản xuất ở những vùng này phụ thuộc chủ yếu vào nước trời, trong đó hạn hán là yếu tố chính làm giảm năng suất ngô; hạn chế về giống, nhất là giống chịu hạn, ít nhiễm sâu bệnh, thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao. Điều này đặt ra cho ngành sản xuất ngô Việt Nam những thách thức và khó khăn lớn, đặc biệt là trong xu thế hội nhập và phát triển như hiện nay.
Đòi hỏi các nhà khoa học, đội ngũ chuyên môn trong cả nước tiếp tục nỗ lực, nghiên cứu chọn tạo ra những giống ngô lai và biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, hiệu quả để nâng cao năng suất, 8 chất lượng sản xuất ngô của nước ta, góp phần vào sự phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam. Tình hình sản xuất ngô tại Bắc Kạn Bắc Kạn là tỉnh miền núi với sản xuất nông lâm nghiệp là chủ yếu, trong đó ngô là cây trồng quan trọng góp phần đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn tỉnh, cùng với những đóng góp của cây ngô trong nền kinh tế cả nước nói chung, cũng như tỉnh Bắc Kạn nói riêng là rất lớn. Chính vì thế trong những năm gần đây tỉnh Bắc Kạn đã tập trung chỉ đạo phát triển mạnh nền kinh tế nông lâm nghiệp tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp đăc biệt là cây lương thực trong đó có cây ngô đã đưa các giống ngô mới có tiềm năng, năng suất cao vào thực tiễn sản xuất nên năng suất, sản lượng ngô của tỉnh Bắc Kạn đã thu được một số kết quả nhất định. Kết quả được thể hiện ở bảng 1.
Tình hình sản xuất ngô tại Bắc Kạn giai đoạn 2012 - 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2012 16,54 37,37 61,80 2013 16,41 40,78 66,92 2014 16,65 38,50 64,08 2015 16,42 41,23 67,68 2016 16,42 40,51 66,51 (Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn, 2016)[3] Qua bảng 1.3 cho thấy, diện tích trồng ngô của tỉnh Bắc Kạn ở các năm có sự biến động không nhiều đến năm 2016 đạt 16,42 nghìn ha. Diện tích trồng ngô tập trung ở các huyện Chợ Đồn, Pác Nặm, Na Rì, Chợ Mới, Ba Bể, Bạch Thông, Ngân Sơn. Ngô được trồng chủ yếu trên chân đất ruộng một vụ 9 không chủ động nước, đất đồi, đất bãi ven sông suối, chân núi đá vôi. Trong 05 năm qua năng suất ngô của Bắc Kạn có tăng nhưng tăng chậm và không ổn định, năm 2012 năng suất đạt 37,37 tạ/ha, năm 2013 năng suất tăng lên 40,78 tạ/ha nhưng đến năm 2014 năng suất giảm xuống 38,50 tạ/ha, năm 2015 năng suất ngô đạt cao nhất trong giai đoạn này (41,2 tạ/ha).
Sở dĩ năng suất ngô ở Bắc Kạn không ổn định nguyên nhân do sản xuất chủ yếu dựa vào thiên nhiên, năm 2014 sản xuất ngô phải đối mặt với khó khăn thách thức biến đổi khí hậu rét đậm rét hại kéo dài, hạn hán, mưa lớn do bão đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất, sản lượng. Chợ Đồn là huyện miền núi vùng cao của tỉnh Bắc Kạn với diện tích tự nhiên 91.135,65ha và có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng. Sản xuất nông nghiệp của huyện còn nhỏ lẻ, manh mún chủ yếu dựa vào thiên nhiên là chính nên gặp nhiều rủi ro do khí hậu, thời tiết, thiên tai… diện tích sản xuất ngô của huyện tăng dần theo từng năm. Kết quả được thể hiện ở bảng 1.
Tình hình sản xuất ngô tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012 - 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (ha) (tạ/ha) (tấn) 2012 1.660 (Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bắc Kạn,2016)[3] Qua bảng số liệu 1.4 diện tích sản xuất ngô của huyện tăng dần theo các năm, đến năm 2016 đạt 1. Năng suất năm 2012 đạt 39,48 tạ/ha đến năm 2013 tăng lên 41,27 tạ/ha cao hơn cả năng suất trung bình của tỉnh, tuy nhiên đến năm 2014 năng suất giảm xuống 37,8 tạ/ha nguyên nhân sản xuất ngô phải đối 10 mặt với khó khăn thách thức rét đậm rét hại kéo dài, hạn hán, mưa lớn do bão đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất, sản lượng.