CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu về tác nhân gây căng thẳng ở GVPT Nghề dạy học nói chung được coi là một nghề cao quý với rất nhiều kỳ vọng của gia đình và xã hội trong việc giáo dục, phát triển nhân cách của học sinh. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây ở các nền văn hóa khác nhau cho thấy giảng dạy cũng là một công việc cực kỳ căng thẳng (Johnson & cộng sự, 2005; Kinman & cộng sự, 2011; Kyriacou, 2001; Liu & Onwuegbuzie, 2012; Mintz, 2007; Vargas & cộng sự, 2014). Đặc biệt, căng thẳng nghề nghiệp giữa các giáo viên đã tăng lên đáng kể trong thập kỷ qua và so với các ngành nghề khác, tình trạng kiệt sức được cho là tình trạng mắc phải cao nhất ở giáo viên (Aloe & cộng sự, 2014). Để làm rõ nguyên nhân của sự gia tăng mức độ căng thẳng ở đối tượng giáo viên, rất nhiều các công trình nghiên cứu đã tiến hành khám phá rộng trên nhiều bối cảnh khác nhau với những thang đo tiêu chí đa dạng.
Cụ thể như sau: Bảng 1.1: Tổng hợp các tác nhân gây căng thẳng ở GVPT Tác nhân gây căng thẳng Tác giả Bối cảnh 09 nhóm tác nhân liên quan đến khối lượng công Kyriacou & Sutcliffe Anh việc quá tải; mối quan hệ kém với học sinh, đồng (1978); Kyriacou nghiệp; thiếu cơ hội phát triển nghề nghiệp, cơ (2011) hội thăng tiến; áp lực về mục tiêu và hiệu quả Borg & cộng sự Malta giảng dạy; hoạt động hành chính nhiều; điều kiện (1991); Boyle & cộng làm việc thiếu thốn, nghèo nàn; và áp lực đối phó sự (1995) Hồng với sự thay đổi từ chương trình, chính sách giáo Jin & cộng sự (2008) Kông dục. 07 nhóm tác nhân liên quan đến (a) hạn chế về Shernoff & cộng sự Mỹ nguồn lực và sự hỗ trợ; (b) khối lượng công việc (2011) quá tải; (c) sự vô tổ chức ở cấp trường; (d) quản lý hành vi gây rối của học sinh; (e) chính sách về giải trình trách nhiệm; (f) giảng dạy cho các nhóm học sinh không đồng nhất; (g) tình hình kinh tế địa phương thấp; (h) quá tải vai trò; (i) yêu cầu về sự chuẩn bị của giáo viên 02 nhóm tác nhân liên quan đến (a) hành vi học Collie & cộng sự Anh sinh và (b) khối lượng công việc (2012) 06 nhóm tác nhân liên quan đến (a) áp lực xã hội, Liu & Onwuegbuzie Trung (b) điểm số học sinh và trách nhiệm của phụ (2012) Quốc huynh, (c) chính sách đánh giá giáo viên của 12 Tác nhân gây căng thẳng Tác giả Bối cảnh trường, (d) khối lượng công việc nặng nề, (e) tình hình kinh tế, và (f) nhiều loại của các kỳ thi mà chính giáo viên đã phải thực hiện. 07 tác nhân liên quan đến tương tác giữa học sinh Travers & Cooper Anh và giáo viên; quản lý/ cấu trúc của trường học; (1996) quy mô lớp học; những thay đổi diễn ra trong Kokkinos (2007) Hy Lạp giáo dục; chính sách đánh giá giáo viên; sự quan Zurlo & cộng sự Italia tâm của quản lý; và thiếu địa vị/ cơ hội thăng tiến (2013, 2016) 04 nhóm tác nhân liên quan đến vấn đề quản lý Fimian & Fastenau Mỹ thời gian; căng thẳng công việc; cơ hội thăng tiến (1990); Richards và phát triển nghề nghiệp; và kỷ luật/ động lực (2012); Von Der học tập của học sinh. Embse & cộng sự (2015, 2016); Nathaniel & cộng sự (2016) Kourmousi & cộng sự Hy Lạp (2015) 03 nhóm tác nhân liên quan đến khối lượng công Skaalvik & Skaalvik Na Uy việc và áp lực thời gian; vấn đề kỷ luật học sinh; (2015, 2017) và động lực học tập của học sinh thấp 05 nhóm tác nhân liên quan đến yêu cầu nhiệm Harmsen & cộng sự Hà Lan vụ cao; các khía cạnh xã hội tiêu cực; khía cạnh (2018) tổ chức kém; thiếu cơ hội phát triển; các khía cạnh tiêu cực của học sinh 03 nhóm tác nhân liên quan đến căng thẳng vai R.
Richards & cộng Anh trò, gồm: quá tải vai trò, không rõ ràng vai trò và sự (2018) mâu thuẫn vai trò 01 nhóm tác nhân liên quan đến sự thay đổi Putwain & von der Anh chương trình giáo dục Embse (2019) 05 nhóm tác nhân liên quan đến thời gian dành Naono‐Nagatomo & Nhật Bản cho công việc; đánh giá năng lực giáo viên; mối cộng sự (2019) quan hệ với các giáo viên khác; tương tác xã hội bên ngoài giảng dạy; và nhiệm vụ ngoài việc giảng dạy 06 nhóm tác nhân liên quan đến hành vi sai trái Abós & cộng sự Tây Ban của học sinh; thiếu sự ra quyết định chung; yêu (2019) Nha cầu mơ hồ từ quản lý; sự đa dạng học sinh; khối lượng công việc; và sự tham gia của phụ huynh không đầy đủ Nguồn: NCS tổng hợp từ tổng quan nghiên cứu 13 Nhìn chung, từ bảng 1.1 cho thấy: trong mỗi công trình nghiên cứu, các tác giả có những cách tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau. Điều này dẫn đến các khuôn khổ hơi khác nhau về tác nhân gây căng thẳng ở giáo viên. Tuy nhiên, các khuôn khổ này có điểm tương đồng nhất định. Đó là tất cả đều bao gồm các yếu tố gây căng thẳng liên quan đến phạm vi công việc (ví dụ: phải đối phó với hành vi sai trái của học sinh), thiếu thốn nguồn lực (ví dụ: hỗ trợ xã hội kém) và áp lực chính trị và xã hội (ví dụ về sự thay đổi trong chính sách giáo dục hoặc thiếu sự đánh giá cao của công chúng) (Stiglbauer & Zuber, 2018).
Chính vì vậy, để có cái nhìn tổng quan về các tác nhân gây căng thẳng liên quan đến giáo viên một cách đầy đủ và phù hợp hơn, NCS đã đồng nhất với quan điểm của Stauffer & Mason (2013) khi tổng hợp theo hai nhóm tác nhân. Cụ thể, phân nhóm thứ nhất là các yếu tố gây căng thẳng cá nhân hoặc yếu tố bên trong (personal stressors or internal factors) – bao gồm những yếu tố liên quan cụ thể đến cá nhân giáo viên, chẳng hạn như đặc điểm tính cách và đặc điểm nhân khẩu học (Bellman & cộng sự, 2003; Camacho, 2017; Graber, 2018). Phân nhóm thứ hai là các yếu tố gây căng thẳng từ môi trường (environmental stressors) hay còn gọi các tác nhân theo bối cảnh công việc (contextual stressors)/ các yếu tố bên ngoài (external factors) – bao gồm những yếu tố nằm ngoài đặc điểm và bản sắc cá nhân của giáo viên, chẳng hạn như nhu cầu công việc và chính sách của trường học (Graber, 2018; Skaalvik & Skaalvik, 2015; Stauffer & Mason, 2013). Nhóm 01: Những yếu tố liên quan đến cá nhân (personal stressors): Phần lớn các nghiên cứu khi xét đến các yếu tố liên quan đến cá nhân thường lấy thông tin điều tra liên quan đến: + Thông tin lý lịch cá nhân bao gồm tuổi, giới tính và dân tộc của họ.
+ Thông tin cơ bản về giảng dạy bao gồm trình độ học vấn cao nhất của họ, loại bằng cấp đã đạt được, môn học giảng dạy, tổng số năm kinh nghiệm giảng dạy, số năm giảng dạy tại trường hiện tại. + Thông tin về bối cảnh trường học bao gồm quy mô lớp học, cơ sở vật chất, hạ tầng, trang thiết bị, dụng cụ giảng dạy và số lượng hỗ trợ về mặt chuyên môn mà giáo viên nhận được. Theo Bellman & cộng sự (2003), Hayes (2006) tác động của các yếu tố như tuổi tác, giới tính, kinh nghiệm giảng dạy và tính cách đôi khi có thể tác động lên giáo viên theo cách làm tăng thêm mức độ tác động của các yếu tố gây căng thẳng và có thể làm giảm khả năng đối phó tổng thể của họ. 14 Nhóm 02: Những yếu tố liên quan đến bối cảnh công việc (contextual stressors): Theo Stauffer và Mason (2013), năm khía cạnh lớn được bàn đến nhiều nhất thuộc nhóm này gây căng thẳng ở GVPT bao gồm: i) Tổ chức chính trị - giáo dục (Political & Educational Structures): bàn về các tác nhân gây căng thẳng liên quan đến tình trạng thiếu thốn các vật dụng và thiết bị cơ bản.
Việc không được tiếp cận với các nguồn cung cấp cơ bản đã tạo ra sự thất vọng và bất bình vì một số giáo viên cảm thấy bị buộc phải tiêu tiền của chính họ (Shernoff & cộng sự, 2011). Ngoài ra, các giáo viên còn mô tả sự hỗ trợ hạn chế từ nhà trường, chính quyền địa phương, chính sách đào tạo không đầy đủ, thiếu thông tin về các vấn đề giáo dục đương đại, những thay đổi liên tục chính sách đánh giá giáo viên và những yêu cầu quá mức của ban giám hiệu nhà trường tạo nên những căng thẳng và kiệt sức nghiêm trọng cho giáo viên (Forlin, 2001; Kyriacou, 2011; Stauffer & Mason, 2013; Travers & Cooper, 1996). Bên cạnh đó, theo Liu & Onwuegbuzie (2012), xã hội đặt quá nhiều kỳ vọng vào giáo viên về cách cải thiện điểm thi của học sinh. Đôi khi, các kỳ vọng và yêu cầu đặt ra khiến cho giáo viên bị quá tải vai trò đảm nhận (Shernoff & cộng sự, 2011).
ii) Yếu tố giảng dạy (Instructional Factors): bàn về các vấn đề liên quan khối lượng công việc và trách nhiệm, thời gian để hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy, cũng như các mối quan tâm về chương trình giảng dạy (Graber, 2018). Đối với giáo viên, tình trạng quá tải trong công việc là thường xuyên diễn ra khi thầy cô buộc phải kiêm nhiệm rất nhiều nhiệm vụ khác ngoài giảng dạy (Galton, 2008). Theo Francis (2019), nhiều giáo viên phải vật lộn với quỹ thời gian có hạn để chuẩn bị giáo án, thiết kế chương trình giảng dạy, xử lý công việc giấy tờ, tham dự các cuộc họp khác nhau, chấm bài, nhập điểm, phân tích dữ liệu, điền vào biểu mẫu, giải quyết vấn đề về các nhu cầu xã hội, học tập và tình cảm của học sinh của họ, và xử lý các gián đoạn hàng ngày, sự sao lãng và các vấn đề không lường trước được. Hay như khi thay đổi một chương trình giảng dạy, một số giáo viên báo cáo rằng việc trang bị tài liệu học tập cần thiết trong ngày học được giao là một nguồn căng thẳng.
Họ phải làm quá nhiều việc trong thời gian quá ít và giờ làm việc bình thường của họ không đủ để thực hiện tốt các nhiệm vụ liên quan đến công việc. Nhận thức về khối lượng công việc quá nhiều buộc một số giáo viên phải chuẩn bị bài học và chấm điểm bài tập vào các buổi tối và cuối tuần. Điều này ảnh hưởng đến các mối quan hệ cá nhân và chính sức khỏe của bản thân họ. Trên thực tế, các trường học thường không được thiết kế để hỗ trợ việc giảng dạy của giáo viên hay khối lượng công việc được giao vượt quá khả năng 15 thực hiện (Holmes, 2005).