Luận án tiến sĩ: Tác động của căng thẳng lên hành vi đổi mới trong công việc của giáo viên phổ thông

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của tác nhân gây căng thẳng đến hành vi đổi mới trong công việc thông qua phản ứng căng thẳng ở giáo viên phổ thông.

Trường đại học

Đại học Kinh tế Quốc dân

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2021

234
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG – HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan nghiên cứu về tác nhân gây căng thẳng ở GVPT

1.2. Tổng quan nghiên cứu về phản ứng căng thẳng ở GVPT

1.3. Tổng quan nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến hành vi đổi mới trong công việc ở GVPT

1.4. Tổng quan nghiên cứu về mối quan hệ giữa tác nhân gây căng thẳng và hành vi đổi mới trong công việc ở GVPT

1.5. Tổng quan nghiên cứu về mối quan hệ giữa phản ứng căng thẳng và hành vi đổi mới trong công việc ở GVPT

1.6. Khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Một số khái niệm nền tảng của luận án

2.1.1. Tác nhân gây căng thẳng

2.1.2. Phản ứng căng thẳng

2.1.3. Hành vi đổi mới trong công việc

2.2. Các trường phái lý thuyết nghiên cứu về căng thẳng

2.2.1. Lý thuyết về “Hội chứng thích nghi chung” của Hans Selye

2.2.2. Lý thuyết về “Giao dịch căng thẳng” của Lazarus & Folkman

2.2.3. Lý thuyết về “Căng thẳng toàn diện” của Nelson và Simmons

2.2.4. Lý thuyết về “Tính thách thức – Cản trở” trong tác nhân gây căng thẳng của Cavanaugh và cộng sự

2.2.5. Hướng tiếp cận lý thuyết làm cơ sở cho nghiên cứu

2.3. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu

2.3.1. Giả thuyết nghiên cứu

2.3.2. Mô hình nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu tổng thể

3.2. Nghiên cứu định tính

3.2.1. Mục tiêu nghiên cứu định tính

3.2.2. Phương pháp thực hiện

3.2.3. Kết quả nghiên cứu định tính

3.3. Nghiên cứu định lượng

3.3.1. Mục tiêu nghiên cứu định lượng

3.3.2. Thang đo và phát triển bảng hỏi

3.4. Nghiên cứu định lượng sơ bộ

3.5. Nghiên cứu định lượng chính thức

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Bối cảnh nghiên cứu

4.1.1. Hệ thống các trường GDPT công lập ở Việt Nam

4.1.2. Những thay đổi của chương trình giáo dục phổ thông mới

4.2. Kết quả kiểm định thang đo

4.2.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo

4.2.2. Kiểm định nhân tố khám phá EFA

4.2.3. Kiểm định nhân tố khẳng định CFA

4.2.4. Kiểm tra sai lệch trong đo lường do phương pháp

4.3. Thực trạng tác nhân gây căng thẳng, phản ứng căng thẳng và hành vi đổi mới trong công việc ở giáo viên phổ thông Việt Nam

4.3.1. Tác nhân gây căng thẳng

4.3.2. Phản ứng căng thẳng

4.3.3. Hành vi đổi mới trong công việc

4.4. Kết quả kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu

4.4.1. Độ phù hợp của mô hình

4.4.2. Kết quả kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ trực tiếp

4.4.3. Kết quả kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ trung gian

5. CHƯƠNG 5: LUẬN BÀN KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

5.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5.3. Một số khuyến nghị

5.4. Một số hạn chế của luận án và định hướng nghiên cứu trong tương lai

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Căng thẳng và hành vi đổi mới trong công việc

Căng thẳng là một yếu tố tâm lý quan trọng ảnh hưởng đến hành vi đổi mới của giáo viên phổ thông. Nghiên cứu chỉ ra rằng căng thẳng có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến khả năng sáng tạo và đổi mới của giáo viên. Khi căng thẳng được nhận thức như một thách thức, nó có thể thúc đẩy sự sáng tạohiệu suất công việc. Ngược lại, nếu căng thẳng được coi là một trở ngại, nó có thể cản trở hành vi đổi mới. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh giáo dục, nơi giáo viên cần liên tục đổi mới phương pháp giảng dạy để đáp ứng nhu cầu của học sinh và xã hội.

1.1. Tác nhân gây căng thẳng

Các tác nhân gây căng thẳng bao gồm áp lực từ công việc, môi trường làm việc, và kỳ vọng từ phía nhà trường và phụ huynh. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến tâm lý giáo viên, từ đó tác động đến hành vi đổi mới. Nghiên cứu cho thấy rằng việc quản lý hiệu quả các tác nhân gây căng thẳng có thể giúp giáo viên duy trì sự sáng tạohiệu suất công việc.

1.2. Phản ứng căng thẳng

Phản ứng căng thẳng có thể là tích cực (eustress) hoặc tiêu cực (distress). Phản ứng căng thẳng tích cực có thể thúc đẩy hành vi đổi mới, trong khi phản ứng căng thẳng tiêu cực có thể cản trở sự phát triển nghề nghiệp của giáo viên. Việc hiểu rõ và quản lý phản ứng căng thẳng là chìa khóa để nâng cao hiệu suất công việcphát triển nghề nghiệp của giáo viên.

II. Ảnh hưởng của căng thẳng đến hành vi đổi mới

Ảnh hưởng của căng thẳng đến hành vi đổi mới trong công việc của giáo viên phổ thông là một chủ đề nghiên cứu quan trọng. Nghiên cứu chỉ ra rằng căng thẳng có thể tác động đến sự sáng tạođổi mới trong công việc thông qua các cơ chế tâm lý và hành vi. Việc quản lý hiệu quả căng thẳng có thể giúp giáo viên duy trì hành vi đổi mới và nâng cao hiệu suất công việc.

2.1. Mối quan hệ giữa căng thẳng và sáng tạo

Căng thẳng có thể thúc đẩy hoặc cản trở sự sáng tạo tùy thuộc vào cách giáo viên nhận thức và phản ứng với nó. Khi căng thẳng được coi là một thách thức, nó có thể kích thích sự sáng tạođổi mới trong công việc. Ngược lại, nếu căng thẳng được nhận thức như một trở ngại, nó có thể làm giảm hành vi đổi mới.

2.2. Quản lý căng thẳng để thúc đẩy đổi mới

Việc quản lý căng thẳng hiệu quả là yếu tố then chốt để thúc đẩy hành vi đổi mới trong công việc của giáo viên. Các biện pháp như hỗ trợ tâm lý, cải thiện môi trường làm việc, và tạo điều kiện phát triển nghề nghiệp có thể giúp giáo viên giảm căng thẳng và tăng cường sự sáng tạo.

III. Giáo viên phổ thông và đổi mới trong công việc

Giáo viên phổ thông đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới trong công việcphát triển nghề nghiệp. Nghiên cứu chỉ ra rằng hành vi đổi mới của giáo viên không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy mà còn tác động đến sự phát triển của học sinh và xã hội. Việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đổi mới của giáo viên là cần thiết để nâng cao hiệu suất công việcphát triển nghề nghiệp.

3.1. Yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đổi mới

Các yếu tố như tâm lý giáo viên, môi trường làm việc, và sự hỗ trợ từ nhà trường có thể ảnh hưởng đến hành vi đổi mới của giáo viên. Nghiên cứu cho thấy rằng việc tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên phát triển sự sáng tạođổi mới trong công việc là chìa khóa để nâng cao hiệu suất công việc.

3.2. Phát triển nghề nghiệp và đổi mới

Phát triển nghề nghiệp là yếu tố quan trọng thúc đẩy hành vi đổi mới của giáo viên. Các chương trình đào tạo và hỗ trợ phát triển nghề nghiệp có thể giúp giáo viên nâng cao kỹ năng và kiến thức, từ đó thúc đẩy sự sáng tạođổi mới trong công việc.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu về tác nhân gây căng thẳng ở GVPT Nghề dạy học nói chung được coi là một nghề cao quý với rất nhiều kỳ vọng của gia đình và xã hội trong việc giáo dục, phát triển nhân cách của học sinh. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây ở các nền văn hóa khác nhau cho thấy giảng dạy cũng là một công việc cực kỳ căng thẳng (Johnson & cộng sự, 2005; Kinman & cộng sự, 2011; Kyriacou, 2001; Liu & Onwuegbuzie, 2012; Mintz, 2007; Vargas & cộng sự, 2014). Đặc biệt, căng thẳng nghề nghiệp giữa các giáo viên đã tăng lên đáng kể trong thập kỷ qua và so với các ngành nghề khác, tình trạng kiệt sức được cho là tình trạng mắc phải cao nhất ở giáo viên (Aloe & cộng sự, 2014). Để làm rõ nguyên nhân của sự gia tăng mức độ căng thẳng ở đối tượng giáo viên, rất nhiều các công trình nghiên cứu đã tiến hành khám phá rộng trên nhiều bối cảnh khác nhau với những thang đo tiêu chí đa dạng.

Cụ thể như sau: Bảng 1.1: Tổng hợp các tác nhân gây căng thẳng ở GVPT Tác nhân gây căng thẳng Tác giả Bối cảnh 09 nhóm tác nhân liên quan đến khối lượng công Kyriacou & Sutcliffe Anh việc quá tải; mối quan hệ kém với học sinh, đồng (1978); Kyriacou nghiệp; thiếu cơ hội phát triển nghề nghiệp, cơ (2011) hội thăng tiến; áp lực về mục tiêu và hiệu quả Borg & cộng sự Malta giảng dạy; hoạt động hành chính nhiều; điều kiện (1991); Boyle & cộng làm việc thiếu thốn, nghèo nàn; và áp lực đối phó sự (1995) Hồng với sự thay đổi từ chương trình, chính sách giáo Jin & cộng sự (2008) Kông dục. 07 nhóm tác nhân liên quan đến (a) hạn chế về Shernoff & cộng sự Mỹ nguồn lực và sự hỗ trợ; (b) khối lượng công việc (2011) quá tải; (c) sự vô tổ chức ở cấp trường; (d) quản lý hành vi gây rối của học sinh; (e) chính sách về giải trình trách nhiệm; (f) giảng dạy cho các nhóm học sinh không đồng nhất; (g) tình hình kinh tế địa phương thấp; (h) quá tải vai trò; (i) yêu cầu về sự chuẩn bị của giáo viên 02 nhóm tác nhân liên quan đến (a) hành vi học Collie & cộng sự Anh sinh và (b) khối lượng công việc (2012) 06 nhóm tác nhân liên quan đến (a) áp lực xã hội, Liu & Onwuegbuzie Trung (b) điểm số học sinh và trách nhiệm của phụ (2012) Quốc huynh, (c) chính sách đánh giá giáo viên của 12 Tác nhân gây căng thẳng Tác giả Bối cảnh trường, (d) khối lượng công việc nặng nề, (e) tình hình kinh tế, và (f) nhiều loại của các kỳ thi mà chính giáo viên đã phải thực hiện. 07 tác nhân liên quan đến tương tác giữa học sinh Travers & Cooper Anh và giáo viên; quản lý/ cấu trúc của trường học; (1996) quy mô lớp học; những thay đổi diễn ra trong Kokkinos (2007) Hy Lạp giáo dục; chính sách đánh giá giáo viên; sự quan Zurlo & cộng sự Italia tâm của quản lý; và thiếu địa vị/ cơ hội thăng tiến (2013, 2016) 04 nhóm tác nhân liên quan đến vấn đề quản lý Fimian & Fastenau Mỹ thời gian; căng thẳng công việc; cơ hội thăng tiến (1990); Richards và phát triển nghề nghiệp; và kỷ luật/ động lực (2012); Von Der học tập của học sinh. Embse & cộng sự (2015, 2016); Nathaniel & cộng sự (2016) Kourmousi & cộng sự Hy Lạp (2015) 03 nhóm tác nhân liên quan đến khối lượng công Skaalvik & Skaalvik Na Uy việc và áp lực thời gian; vấn đề kỷ luật học sinh; (2015, 2017) và động lực học tập của học sinh thấp 05 nhóm tác nhân liên quan đến yêu cầu nhiệm Harmsen & cộng sự Hà Lan vụ cao; các khía cạnh xã hội tiêu cực; khía cạnh (2018) tổ chức kém; thiếu cơ hội phát triển; các khía cạnh tiêu cực của học sinh 03 nhóm tác nhân liên quan đến căng thẳng vai R.

Richards & cộng Anh trò, gồm: quá tải vai trò, không rõ ràng vai trò và sự (2018) mâu thuẫn vai trò 01 nhóm tác nhân liên quan đến sự thay đổi Putwain & von der Anh chương trình giáo dục Embse (2019) 05 nhóm tác nhân liên quan đến thời gian dành Naono‐Nagatomo & Nhật Bản cho công việc; đánh giá năng lực giáo viên; mối cộng sự (2019) quan hệ với các giáo viên khác; tương tác xã hội bên ngoài giảng dạy; và nhiệm vụ ngoài việc giảng dạy 06 nhóm tác nhân liên quan đến hành vi sai trái Abós & cộng sự Tây Ban của học sinh; thiếu sự ra quyết định chung; yêu (2019) Nha cầu mơ hồ từ quản lý; sự đa dạng học sinh; khối lượng công việc; và sự tham gia của phụ huynh không đầy đủ Nguồn: NCS tổng hợp từ tổng quan nghiên cứu 13 Nhìn chung, từ bảng 1.1 cho thấy: trong mỗi công trình nghiên cứu, các tác giả có những cách tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau. Điều này dẫn đến các khuôn khổ hơi khác nhau về tác nhân gây căng thẳng ở giáo viên. Tuy nhiên, các khuôn khổ này có điểm tương đồng nhất định. Đó là tất cả đều bao gồm các yếu tố gây căng thẳng liên quan đến phạm vi công việc (ví dụ: phải đối phó với hành vi sai trái của học sinh), thiếu thốn nguồn lực (ví dụ: hỗ trợ xã hội kém) và áp lực chính trị và xã hội (ví dụ về sự thay đổi trong chính sách giáo dục hoặc thiếu sự đánh giá cao của công chúng) (Stiglbauer & Zuber, 2018).

Chính vì vậy, để có cái nhìn tổng quan về các tác nhân gây căng thẳng liên quan đến giáo viên một cách đầy đủ và phù hợp hơn, NCS đã đồng nhất với quan điểm của Stauffer & Mason (2013) khi tổng hợp theo hai nhóm tác nhân. Cụ thể, phân nhóm thứ nhất là các yếu tố gây căng thẳng cá nhân hoặc yếu tố bên trong (personal stressors or internal factors) – bao gồm những yếu tố liên quan cụ thể đến cá nhân giáo viên, chẳng hạn như đặc điểm tính cách và đặc điểm nhân khẩu học (Bellman & cộng sự, 2003; Camacho, 2017; Graber, 2018). Phân nhóm thứ hai là các yếu tố gây căng thẳng từ môi trường (environmental stressors) hay còn gọi các tác nhân theo bối cảnh công việc (contextual stressors)/ các yếu tố bên ngoài (external factors) – bao gồm những yếu tố nằm ngoài đặc điểm và bản sắc cá nhân của giáo viên, chẳng hạn như nhu cầu công việc và chính sách của trường học (Graber, 2018; Skaalvik & Skaalvik, 2015; Stauffer & Mason, 2013).  Nhóm 01: Những yếu tố liên quan đến cá nhân (personal stressors): Phần lớn các nghiên cứu khi xét đến các yếu tố liên quan đến cá nhân thường lấy thông tin điều tra liên quan đến: + Thông tin lý lịch cá nhân bao gồm tuổi, giới tính và dân tộc của họ.

+ Thông tin cơ bản về giảng dạy bao gồm trình độ học vấn cao nhất của họ, loại bằng cấp đã đạt được, môn học giảng dạy, tổng số năm kinh nghiệm giảng dạy, số năm giảng dạy tại trường hiện tại. + Thông tin về bối cảnh trường học bao gồm quy mô lớp học, cơ sở vật chất, hạ tầng, trang thiết bị, dụng cụ giảng dạy và số lượng hỗ trợ về mặt chuyên môn mà giáo viên nhận được. Theo Bellman & cộng sự (2003), Hayes (2006) tác động của các yếu tố như tuổi tác, giới tính, kinh nghiệm giảng dạy và tính cách đôi khi có thể tác động lên giáo viên theo cách làm tăng thêm mức độ tác động của các yếu tố gây căng thẳng và có thể làm giảm khả năng đối phó tổng thể của họ. 14  Nhóm 02: Những yếu tố liên quan đến bối cảnh công việc (contextual stressors): Theo Stauffer và Mason (2013), năm khía cạnh lớn được bàn đến nhiều nhất thuộc nhóm này gây căng thẳng ở GVPT bao gồm: i) Tổ chức chính trị - giáo dục (Political & Educational Structures): bàn về các tác nhân gây căng thẳng liên quan đến tình trạng thiếu thốn các vật dụng và thiết bị cơ bản.

Việc không được tiếp cận với các nguồn cung cấp cơ bản đã tạo ra sự thất vọng và bất bình vì một số giáo viên cảm thấy bị buộc phải tiêu tiền của chính họ (Shernoff & cộng sự, 2011). Ngoài ra, các giáo viên còn mô tả sự hỗ trợ hạn chế từ nhà trường, chính quyền địa phương, chính sách đào tạo không đầy đủ, thiếu thông tin về các vấn đề giáo dục đương đại, những thay đổi liên tục chính sách đánh giá giáo viên và những yêu cầu quá mức của ban giám hiệu nhà trường tạo nên những căng thẳng và kiệt sức nghiêm trọng cho giáo viên (Forlin, 2001; Kyriacou, 2011; Stauffer & Mason, 2013; Travers & Cooper, 1996). Bên cạnh đó, theo Liu & Onwuegbuzie (2012), xã hội đặt quá nhiều kỳ vọng vào giáo viên về cách cải thiện điểm thi của học sinh. Đôi khi, các kỳ vọng và yêu cầu đặt ra khiến cho giáo viên bị quá tải vai trò đảm nhận (Shernoff & cộng sự, 2011).

ii) Yếu tố giảng dạy (Instructional Factors): bàn về các vấn đề liên quan khối lượng công việc và trách nhiệm, thời gian để hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy, cũng như các mối quan tâm về chương trình giảng dạy (Graber, 2018). Đối với giáo viên, tình trạng quá tải trong công việc là thường xuyên diễn ra khi thầy cô buộc phải kiêm nhiệm rất nhiều nhiệm vụ khác ngoài giảng dạy (Galton, 2008). Theo Francis (2019), nhiều giáo viên phải vật lộn với quỹ thời gian có hạn để chuẩn bị giáo án, thiết kế chương trình giảng dạy, xử lý công việc giấy tờ, tham dự các cuộc họp khác nhau, chấm bài, nhập điểm, phân tích dữ liệu, điền vào biểu mẫu, giải quyết vấn đề về các nhu cầu xã hội, học tập và tình cảm của học sinh của họ, và xử lý các gián đoạn hàng ngày, sự sao lãng và các vấn đề không lường trước được. Hay như khi thay đổi một chương trình giảng dạy, một số giáo viên báo cáo rằng việc trang bị tài liệu học tập cần thiết trong ngày học được giao là một nguồn căng thẳng.

Họ phải làm quá nhiều việc trong thời gian quá ít và giờ làm việc bình thường của họ không đủ để thực hiện tốt các nhiệm vụ liên quan đến công việc. Nhận thức về khối lượng công việc quá nhiều buộc một số giáo viên phải chuẩn bị bài học và chấm điểm bài tập vào các buổi tối và cuối tuần. Điều này ảnh hưởng đến các mối quan hệ cá nhân và chính sức khỏe của bản thân họ. Trên thực tế, các trường học thường không được thiết kế để hỗ trợ việc giảng dạy của giáo viên hay khối lượng công việc được giao vượt quá khả năng 15 thực hiện (Holmes, 2005).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ảnh hưởng của căng thẳng đến hành vi đổi mới trong công việc của giáo viên phổ thông" tập trung phân tích tác động của căng thẳng lên khả năng sáng tạo và đổi mới trong công việc của giáo viên phổ thông. Nghiên cứu chỉ ra rằng căng thẳng kéo dài có thể làm giảm hiệu quả làm việc, hạn chế sự sáng tạo và khả năng thích ứng với những thay đổi trong môi trường giáo dục. Tuy nhiên, nếu được quản lý tốt, căng thẳng cũng có thể trở thành động lực thúc đẩy sự đổi mới. Tài liệu này cung cấp những hiểu biết sâu sắc về cách giáo viên có thể cân bằng giữa áp lực công việc và sự sáng tạo, đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý căng thẳng hiệu quả.

Để mở rộng kiến thức về quản lý giáo dục và phương pháp dạy học, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông dựa theo lý thuyết quản lý sự thay đổi, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục quản lý quá trình dạy học của trường THPT tỉnh Tuyên Quang trong bối cảnh phân cấp QLGD, và Quản lý hoạt động dạy học môn khoa học tự nhiên lớp 6 ở các trường trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp quản lý và đổi mới trong giáo dục, từ đó áp dụng hiệu quả vào thực tiễn.