ĐẶT VẤN ĐỀ Trong mấy năm trở lại đây, ngành chăn nuôi nước ta đã phát triển mạnh mẽ và ngày càng chăn nuôi với quy mô lớn hơn. Cùng với sợ phát triển đó nền nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng cũng có những bước phát triển theo, đặc biệt nghề chăn nuôi gia cầm. Màu sắc của lòng đỏ, vỏ trứng, màu vàng của da, mỡ, chân là những chỉ tiêu quan trọng của chất lượng trứng, thịt gà thương phẩm và ảnh hưởng đến thị hiếu của người tiêu dùng của nhiều nước như: Mĩ, Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Ý, Hy Lạp, Ba Lan, Việt Nam.(Galobart et al., 2004; Hernandez, 2005; Castaneda et al. Đặc biệt, màu sắc của các sản phẩm trên ở gia cầm được quyết định bởi nguồn thức ăn.
Để đáp ứng nhu cầu về thịt và trứng gia cầm ngày càng cao của thị trường, cùng với việc tăng nhanh tổng đàn gia cầm bằng phương thức chăn nuôi công nghiệp, ngành chăn nuôi gia cầm đã và đang đưa nhiều tiến bộ khoa hoc kĩ thuật vào áp dụng trong sản xuất, từ khâu cải tạo giống, nâng cao chất lượng thức ăn đến cải tiến quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng…Trong đó việc cải thiện chất lượng thức ăn chăn nuôi, đáp ứng đầy đủ nhu cầu protein, năng lượng, vitamin, axit amin, các chất khoáng và đưa vào sử dụng một số loại thức ăn bổ sung được các nhà sản xuất quan tâm. Để cải thiện màu sắc lòng đỏ và các sản phẩm của gia cầm các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi thường sử dụng các chất tạo màu tự nhiên hoặc nhân tạo bổ sung vào thức ăn. Tuy nhiên, việc các nhà chăn nuôi gia cầm thường xuyên sử dụng một lượng lớn hóa chất, kháng sinh để phòng, trị bệnh và kích thích sinh trưởng đã gây ra những tác hại không nhỏ: tồn dư hóa chất và kháng sinh trong trứng, thịt, gây ô nhiễm môi trường chăn nuôi và sinh ra một số vi khuẩn kháng kháng sinh. Chính vì thế trong thời gian qua tình hình dịch bệnh trên gia cầm diễn ra rất phức tạp đặc biệt là dịch cúm gia cầm, các bệnh về đường tiêu hóa: bệnh Cầu trùng, E.
thường xuyên xảy ra trên gia cầm đã gây ra những thiệt hại không nhỏ cho người chăn nuôi. Trong những năm gần đây, một số sản phẩm tạo màu có nguồn gốc tự nhiên đã được nhập vào nước ta và được nhiều công ty thức ăn chăn nuôi sử dụng mặc dù có giá thành tương đối cao. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sử dụng cây thuốc phòng trị bệnh cho gia súc, gia cầm thay thế kháng sinh (đặc biệt trong phòng bệnh và có khả năng kích thích tăng trưởng) sẽ giảm được giá thành, tạo thực phẩm sạch và an toàn. Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm mà vẫn nâng cao sức khỏe của vật nuôi việc sử dụng một số nguồn nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên như bã nghệ, bột nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, đạt hiểu quả kinh tế cao trong chăn nuôi gia cầm.
Từ ngàn xưa, người Ấn Độ đã phát hiện ra công dụng không ngờ từ nghệ như bảo vệ gan, chữa lành vết thương nên nghệ được dùng trong bữa ăn hàng ngày. Curcumin là thành phần hoạt chất chính trong nghệ, giúp tăng bài tiết dịch mật tiêu hóa chất béo, bảo vệ cho gan. Sau đây là một vài khám phá mới về hoạt chất thần kỳ curcumin trong nghệ. Nghệ có tác dụng rất quan trong với con người giúp giảm cân, lưu thông và lọc máu, giúp cơ thể chống lại các vi khuẩn sống ký sinh trong ruột, đặc biệt tốt cho hệ tiêu hóa, giúp chống ung thư, kháng viêm, giảm nguy cơ nhiễm trùng , giúp khử trùng, mau lành vết thương.
Nghệ chứa : Nước 13,1%; protein 6,3%; chất béo 5,1%; chất vô cơ 3,5%; sợi 2,6%; carbonhydrat 69,4% và caroten tính theo vitamin A. Các chất màu phenolic trong củ Nghệ chủ yếu là dẫn chất của diarylheptan, 3 chất chủ yếu là curcumin, bis(4- hydroxy-cinnamoyl)- methan và 4-hydroxycinamoyl feruloyl methan. Theo một số tài liệu nghệ có tác dụng rất quan trọng giúp cơ thể chống lại các vi khuẩn sống ký sinh trong ruột, đặc biệt tốt cho hệ tiêu hóa, giúp giảm nguy cơ nhiễm trùng, giúp khử trùng, mau lành vết thương. Đặc biệt thành phần curcumin có trong nghệ khi bổ sung vào trong thức ăn của gia cầm không những đảm bảo vể sức khỏe cho con vật mà còn cải thiện mầu sắc của da và lòng đỏ trứng.
Vì vậy, nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung bã nghệ đến màu sắc, chất lượng thịt và lòng đỏ trứng là hết sức cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu sản xuất chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của việc bổ sung bã nghệ vào khẩu phần ăn đến sức sản xuất của gà JA – DABACO và ISA - BROWN”. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI Đề tài được thực hiện với mục đích sau: - Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung bã nghệ trong khẩu phần đối với sức sản xuất thịt của gà JA – DABACO. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đánh giá ảnh hưởng của các mức sử dụng bã nghệ trong khẩu phần tới sức sản xuất và màu sắc lòng đỏ trứng thương phẩm của gà ISA - BROWN.
Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học Đề tài được tiến hành nhằm bước đầu đánh giá việc sử dụng bã nghệ vào khẩu phần ăn đến sức sản xuất thịt của gà JA – DABACO, sức sản xuất trứng và màu sắc lòng đỏ trứng thương phẩm của gà ISA - BROWN. Ý nghĩa thực tiễn Nếu thành công, đề tài sẽ góp phần cho thực tiễn chăn nuôi gia cầm một nguồn phụ phẩm làm tăng năng suất, chất lượng thịt, trứng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Giảm giá thành sản phẩm, tạo điều kiện cho hộ nông dân chăn nuôi gia cầm phát triển về kinh tế.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA GIA CẦM 2. Khái niệm sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trước.
Sự sinh trưởng chính là sự tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein. Tốc độ và sự tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường, 1992). Chamber (1990), đã định nghĩa sinh trưởng là sự tổng hợp các bộ phận như thịt, xương, da. Những bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng.
Sự tăng trưởng thực sự khi các tế bào mô cơ có tăng thêm về khối lượng, số lượng và các chiều đo. Vì vậy béo mỡ không phải là tăng trưởng, nó được gọi là sự tăng trọng của cơ thể, vì béo mỡ chủ yếu là tích luỹ nước, không có sự phát triển của thân, mô, cơ. Sự tăng trưởng của sinh vật bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến lúc cơ thể trưởng thành và được chia hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai (trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ). Như vậy, cơ sở chủ yếu của sinh trưởng gồm hai quá trình: tế bào sản sinh và tế bào phát triển, trong đó sự phát triển là chính.
Theo Phùng Đức Tiến (1996), trong quá trình sinh trưởng thì trước hết là kết quả của sự phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống. Những chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng trong chăn nuôi - Khối lượng cơ thể: Thường được theo dõi theo từng tuần tuổi và đơn vị tính là kg/con hoặc g/con. Để xác định khối lượng cơ thể ở các khoảng thời gian khác nhau người ta còn biểu thị khối lượng thông qua đồ thị sinh trưởng. Khối lượng cơ thể ở từng thời kỳ là thông số để đánh giá sự sinh trưởng một cách đúng đắn nhất, song lại không chỉ ra được sự khác nhau về tỷ lệ sinh trưởng của các thành phần trong khoảng thời gian của các độ tuổi.
- Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (T.39, 1977) sinh 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trưởng tuyệt đối thường tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol. Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn. - Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ phần trăm tăng lên về khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (T.
Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypebol. Gà còn non có sinh trưởng tương đối cao, sau đó giảm dần theo tuổi. - Đường cong sinh trưởng: Là đường cong biểu thị sinh trưởng của gia súc, gia cầm nói chung. Theo tài liệu của Chamber.R (1988) đường cong sinh trưởng của gà thịt có 4 đặc điểm chính gồm 4 pha: + Pha sinh trưởng tích luỹ tăng tốc nhanh sau khi nở.
+ Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có sinh trưởng cao nhất. + Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn. + Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành. Đồ thị sinh trưởng tích lũy biểu thị một cách đơn giản nhất về đường cong sinh trưởng.
Đường cong sinh trưởng không những được sử dụng để chỉ rõ về khối lượng mà còn làm rõ về mặt chất lượng, sự sai khác giữa các dòng, giống, giới tính. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm - Ảnh hưởng của dòng giống Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau. Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs. Theo tài liệu của Chambers.R (1990), thì nhiều gen ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể gà.
Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ. - Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông Tốc độ mọc lông có liên hệ với chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thường có chất lượng thịt tốt hơn. Đây cũng là tính trạng di truyền liên kết với giới tính. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.