Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về cây đậu nành rau Đậu nành rau (vegetable soybean) có tên khoa học là Glycine max (L.) Merrill thường được sử dụng khi trái còn non. Mang giá trị dinh dưỡng cao và hiệu quả kinh té. Cây đậu nành rau là cây trồng cạn ngắn ngày có tác dụng nhiều mặt. Sản pham của nó làm thực pham cho con người, thức ăn cho gia súc và nguyên liệu cho công nghiệp, hàng xuất khẩu và là cây cải tạo đất tốt.
Một ha trồng đậu nành rau nếu sinh trưởng và phát triển tốt dé lại trong đất từ 30 Kg - 60 Kg N (Trần Văn Điền, 2007). Đậu nành rau có hạt và quả to hơn đậu nành ăn hạt thường. Ở dạng quả non thường được chế biến làm các món ăn như luộc, xảo nấu, salad. Ở dạng quả giả thường được sử dụng làm nguyên liệu cho công nghiệp như ép dau, làm bột.
Trong 100 g hạt non có 11,4 g protein; 6,6 g lipid; 7,4 g hydratcacbon; 15,6 g chat so dé tiéu; 70 mg canxi; 140 mg photpho; 140 mg kali; 100 mg vitaminA; 27 g vitamin C; ngoài ra con có các khoáng chất và vitamin khác như sắt, natri, vitamin B1, B2, B3 (Masuda, 1991). Hạt đậu nành rau ở dạng khô tuy ít được sử dụng hơn nhưng vẫn có nhiều chất dinh dưỡng (Trần Văn Điền, 2007). Trong hạt khô có hơn 40% protein, khoảng 20% lipit, 33% hydratcacbon, 6% chat sơ và 5% tro tính trên một don vị khối lượng hạt khô (Shamugasundaram, 1996). Phân tích sinh hóa cho thấy trong hạt đậu nành rau dang nảy mầm ngoài hàm lượng vitamin C cao, còn có các thành phần dinh dưỡng khác như vitamin PP, và nhiều chất khoáng như Ca, P, Fe (Trần Văn Điền, 2007).
Ngoài ra lá và thân của cây đậu nành rau còn dùng làm thức ăn cho gia súc. Trong hạt đậu nành rau đang nảy mam hàm lượng vitamin được tăng lên nhiều đặc biệt là vitamin C. Vì thế cây đậu nành rau còn được gọi là “ Ông Hoàng trong các loại cây họ đậu” (Trần Văn Điền, 2007).1 Đặc tính thực vật học Rễ: là rễ cọc, rễ tập trung ở tầng đất mặt 30 - 40 em, độ ăn lan khoảng 20 - 40 em. Trên bộ rễ của cây đậu nành rau có nhiều nốt san, các nốt san này chứa hàng tỷ vi khuẩn Rhizobium japonicum sống cộng sinh với rễ của cây đậu nành rau và có khả năng tông hợp đạm cung cấp cho cây (Phạm Văn Thiều, 2002).
Thân: Thân cây đậu nành rau hình tròn, có nhiều lông, mang nhiều đốt, chiều dài của các đốt cũng thay đổi tùy theo giống. Thân khi còn non có màu xanh hoặc mau tim khi về già chuyên sang màu nâu nhạt, màu sắc của thân khi còn non có liên quan chặt chẽ với màu sắc của hoa sau này. Nếu thân lúc còn non màu xanh thì hoa màu trắng và nếu khi còn non thân có màu tím thì hoa có màu tím đỏ. Thân có trung bình 14 - 15 long, các long ở phía dưới thường ngắn, các lóng ở phía trên thường dai.
Tùy theo giống và thời vụ gieo mà chiều dài lóng có sự khác nhau thường biến động từ 3 - 10 em (Trần Văn Điền, 2007). Lá: Có các dạng lá theo từng thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây như lá mầm, lá đơn và lá kép có 3 lá chét. Lá mầm (tử diệp) lá mầm mới mọc có màu vàng hay xanh lục, khi tiếp xúc với ánh sáng thì chuyển sang màu xanh. Lá mầm chứa nhiều dinh dưỡng nuôi cây mầm, khi hết chất dinh dưỡng lá mầm khô héo đi.
Lá nguyên (lá đơn) lá nguyên xuất hiện sau khi cây mọc từ 2 ngày đến 3 ngày và mọc phía trên lá mầm. Lá đơn mọc đối xứng nhau. Lá đơn to màu xanh bóng là biểu hiện cây sinh trưởng tốt. Lá kép mỗi lá kép có 3 lá chét, có khi 4 - 5 lá chét.
Lá kép mọc so le, lá kép thường có màu xanh tươi khi già biến thành màu vàng nâu. Phần lớn trên lá có nhiều lông tơ. Các lá nằm cạnh chùm hoa nào giữ vai trò chủ chủ yêu cung cấp dinh dưỡng cho chùm hoa ấy. Nếu vì điều kiện nào đó làm cho lá bị úa vàng thì quả ở vị trí đó thường bị rụng hoặc lép (Trần Văn Điền, 2007).
Hoa: Hoa nhỏ có hình cánh bướm, hoa có màu tím hoặc trắng. Hoa phát sinh ở nách lá, đầu cành và đầu thân. Hoa mọc thành từng chùm, mỗi chùm có từ 1 - 10 hoa và thường có 3 - 5 hoa. Hoa đậu nành ra nhiều nhưng tỷ lệ rụng rất cao khoảng 30% có khi lên tới 80%.
Hoa đậu nành thuộc loại hoa đồng chu lưỡng tính trong hoa có nhị vanhuy, mỗi hoa gồm 5 lá đài, 5 cánh hoa, có 10 nhị và 1 nhụy. Các cánh hoa vươn ra khỏi lá dai từ ngày hôm trước và việc thụ phan xây ra vào sáng ngày hôm sau lúc 8 - 9 giờ sáng trước khi nụ hoặc hoa chưa nở hoàn toàn. Mùa hè hoa thường nở sớm hơn 4 mùa đông và thời gian nở hoa rất ngắn sáng nở chiều tàn. Hoa đậu nành thường thụ phan trước khi hoa nở và là cây tự thụ phan, ty lệ giao phan rất thấp chiếm trung bình 0,5 - 1,0% (Trần Văn Điền, 2007).
Quả: Số quả biến động từ 2 đến 20 quả ở mỗi chùm hoa và có thé đạt tới 400 quả trên một cây. Trung bình một quả có từ 2 đến 3 hạt. Quả đậu nành thắng hoặc hơi cong, có chiều dai từ 2 tới 7 cm hoặc hơn. Quả có màu sắc biến động từ vàng trắng tới vàng sam, nâu hoặc đen.
Da số ngoài vỏ quả có nhiều lông bao phủ, quả có màu xanh (có khả năng quang hợp đo có điệp lục), mỗi quả có từ 1 - 3 hạt (Trần Văn Điền, 2007).2 Yêu cầu ngoại cảnh Nhiệt độ: Ngưỡng nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng phát triển tốt 27°C đến 42°C. Nhiệt độ thích hợp cho hạt nảy mam 10°C - 120°C (Phạm Văn Thiéu, 2002), cây đậu nành có nguồn gốc ôn đới nhưng không phải là cây chịu rét, nếu trồng trong điều kiện nhiệt độ thấp thì thời gian sinh trưởng của cây sẽ kéo dài hơn, trong giai đoạn cây tích lũy chất khô mà gặp nhiệt độ thấp sẽ ảnh hưởng xấu đến sự chín của quả, và chất lượng không được tốt (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2003). Ánh sáng: Với cây đậu nành thì ánh sáng không chỉ là yếu tố quyết định quang hợp ma còn ảnh hưởng đến hoạt động có định đạm của các nốt san, nên sẽ ảnh hưởng đến sản lượng chất khô và năng suất thu hoạch (Phạm Văn Thiều, 2002). Đậu nành rất cần ánh sáng nhưng không cần ánh sáng gắt, cần nhất ở thời kỳ ra hoa kết trái.
Lượng mưa và âm độ: Cây đậu nành thích hợp với vùng có nhiệt độ tương đối cao, nhưng lại là cây chịu hạn kém. Tuy vậy, đậu nành cũng không thích nghi được với vùng có lượng mưa quá cao, mùa mưa kéo dài, lượng nước mưa trong năm đòi hỏi chỉ ở mức độ 700 mm và ẩm độ đất 50% (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2003). Nước: Tuy là cây trồng cạn nhưng nước cũng là yếu tô quan trong cũng là yếu tố hạn chế đến việc sản xuất đậu tương. Trong suốt quá trình canh tác từ gieo hạt đến lúc thu hoạch thì cây cần ít nhất 300 mm nước.
Ở giai đoạn ra hoa đậu qua va nuôi hat thì cần rất nhiều nước nếu thiếu nước vao lúc này thì hoa bị rụng nhiều giảm số lượng qua (Phạm Văn Thiéu, 2002). Đất: Đất trồng đậu nành rau không quá khắt khe, cây thích nghi với nhiều loại đất khác nhau như: đất phù sa, đất cát pha, đất thịt, đất bãi, đất đồi núi. Chỉ cần bón đầy đủ phân hưu cơ và phân vô cơ, thành phan cơ giới nhẹ, thoát nước tốt thì dat nao 5 cũng có thê trồng được. Tuy nhiên, đất tốt, đất nhẹ thì càng dễ trồng ít tốn công và đạt năng suất cao hơn đất xấu, đất nặng, pH thích hợp cho cây có thể sinh trưởng phát triển là 5,2 - 6,5 (Phạm Văn Thiéu, 2002).2 Tổng quan về axit humic Axit humic là một thành phần quan trọng của chất hữu cơ trong đất.
Chúng được hình thành do sự tích tụ và phân hủy không hoàn toàn tàn dư thực vật trong điều kiện yếm khí. Axit humic là nền tảng của tất cả các đất đai màu mỡ. Trong nhiều năm, chúng tích lũy trong đất, giúp đất tăng khả năng giữ nước, đinh dưỡng, là nguồn thức ăn cho các vi sinh vật có lợi cho đất. Day là cách dé giảm thiểu tổn thất chất dinh dưỡng, duy trì độ phì nhiêu của đất và đảm bảo phát triển bền vững của thiên nhiên.
Thành phần nguyên tố của axit humic chủ yếu bao gồm C, H, O, N. Hàm lượng các nguyên tố này khác nhau phụ thuộc vào loại đất, thành phần hóa học của tàn tích sinh vật. Trong điều kiện mùn hóa thì hàm lượng các nguyên tố như sau: 56,2% — 61,9% C; 3,4% — 4,8% H; 29,5% — 34,8% O; 3,5% — 4,7% N (Trần Văn Dũng, 2022).1 Tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của thực vật Tác động của axit humic là tác động gián tiếp hay trực tiếp đến sinh trưởng của cây. Các tác động gián tiếp chủ yếu được phát huy thông qua các đặc tính như: làm giàu chất dinh dưỡng trong đất, tăng mật độ vi sinh vật, khả năng trao đổi cation cao hơn, cải thiện cấu trúc đất; trong khi đó tác động trực tiếp là các hoạt động sinh hóa khác nhau tác động vào thành tế bào, màng hoặc tế bảo chất và chủ yếu là bản chất nội tiết tố.
Các hoạt động giống như nội tiết tố của axit humic được ghi lại rõ rang trong các bai báo khác nhau, đặc biệt là các hiệu ứng phụ trợ, cytokinin và gibberellin. Trực tiếp, chúng ảnh hưởng đến các quá trình liên quan đến sự hấp thu và vận chuyển các chất humic vào các mô thực vật (Nardi, 2002) (Trích dẫn bởi Trần Văn Dũng, 2022).2 Sự phát triển của rễ Sự kết hợp của axit humic vào đất kích thích sự phát triển của rễ cũng như kích thích sự phân nhánh và bắt đầu của rễ tơ và một phần có thể được cho là do tăng cường hấp thu dinh dưỡng. Một số nghiên cứu cho thấy axit humic làm tăng chiều dài rễ, số rễ và sự phân nhánh của rễ. Kích thích tăng trưởng rễ nói chung rõ ràng hơn so với tăng trưởng chồi (Nardi, 2002).
Các chất humic có ảnh hưởng rất mạnh đến sự phát triển của rễ cây.