Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của lượng axit humic đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây đậu nành rau glycine max l merrill trên nền đất xám tại thành phố hồ chí minh

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của lượng axit humic đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây đậu, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Nông Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2024

66
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giới thiệu chung về cây đậu nành rau

1.2. Tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của thực vật

1.3. Sự phát triển của rễ

1.4. Sơ lược về phân bón axit humic sử dụng trong thí nghiệm

1.5. Một số nghiên cứu ảnh hưởng của axit humic trên cây trồng

1.6. Một số nghiên cứu phân bón trên cây đậu nành rau

1.7. Ảnh hưởng của phân axit humic trên các loại cây

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2. Điều kiện thời tiết

2.3. Điều kiện đất đai

2.4. Vật liệu nghiên cứu và vật tư nông nghiệp

2.5. Phương pháp tiến hành

2.6. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

2.6.1. Thời gian sinh trưởng và phát dục

2.6.2. Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển

2.6.3. Chỉ tiêu sâu bệnh hại

2.6.4. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

2.7. Phương pháp xử lí số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Ảnh hưởng của axit humic đến sinh trưởng của cây đậu nành rau

3.1.1. Chiều cao của cây đậu nành rau

3.1.2. Số lá và số cành cấp 1 của cây đậu nành rau

3.1.3. Chỉ số diệp lục tố tương đối

3.1.4. Khả năng tích lũy chất khô tại thời điểm 45 NSG và chỉ số diện tích lá cây đậu nành

3.1.5. Số hoa và tỉ lệ đậu quả

3.2. Ảnh hưởng của lượng axit humic đến nốt sần cây đậu nành

3.3. Ảnh hưởng của lượng axit humic đến tỷ lệ sâu bệnh trên cây đậu nành rau

3.4. Ảnh hưởng của lượng axit humic đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

3.4.1. Các yếu tố cấu thành năng suất cây đậu nành rau

3.4.2. Năng suất cây đậu nành rau

3.4.3. Hiệu quả kinh tế của cây đậu nành rau

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH SÁCH CÁC HÌNH

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Ảnh Hưởng Của Axit Humic Đến Cây Đậu Nành Rau

Cây đậu nành rau (Glycine max (L.) Merrill) là một trong những loại cây trồng quan trọng tại TP.HCM. Việc sử dụng axit humic trong canh tác đã trở thành một xu hướng mới nhằm nâng cao năng suất cây trồng. Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định ảnh hưởng của lượng axit humic đến sự sinh trưởng và phát triển của cây đậu nành rau trên nền đất xám tại TP.HCM.

1.1. Đặc Điểm Của Cây Đậu Nành Rau Tại TP.HCM

Cây đậu nành rau có giá trị dinh dưỡng cao và được ưa chuộng trong chế biến thực phẩm. Đặc điểm sinh trưởng của cây này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có đất trồngphân bón.

1.2. Vai Trò Của Axit Humic Trong Nông Nghiệp

Axit humic giúp cải thiện cấu trúc đất, tăng cường khả năng giữ nước và dinh dưỡng. Điều này rất quan trọng cho sự phát triển của cây đậu nành rau, đặc biệt trong điều kiện khí hậu tại TP.HCM.

II. Vấn Đề Về Năng Suất Cây Đậu Nành Rau Tại TP

Mặc dù cây đậu nành rau có tiềm năng lớn, nhưng năng suất vẫn chưa đạt yêu cầu. Các yếu tố như đất trồng, phân bónthời tiết ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất. Việc áp dụng axit humic có thể là giải pháp hiệu quả để khắc phục tình trạng này.

2.1. Thách Thức Trong Canh Tác Cây Đậu Nành Rau

Nông dân thường gặp khó khăn trong việc lựa chọn loại phân bón phù hợp. Việc sử dụng phân bón hữu cơ truyền thống có nhiều hạn chế về hiệu quả kinh tế.

2.2. Tác Động Của Thời Tiết Đến Sinh Trưởng Cây Đậu Nành

Thời tiết tại TP.HCM có sự biến đổi lớn, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây đậu nành rau. Nhiệt độ và độ ẩm là hai yếu tố quan trọng cần được xem xét.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Axit Humic

Nghiên cứu được thực hiện thông qua thí nghiệm với nhiều nghiệm thức khác nhau về lượng axit humic. Mục tiêu là xác định liều lượng tối ưu để cây đậu nành rau đạt năng suất cao nhất. Phương pháp bố trí thí nghiệm được thực hiện theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên.

3.1. Thiết Kế Thí Nghiệm

Thí nghiệm được bố trí với 5 nghiệm thức khác nhau về lượng axit humic. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần để đảm bảo tính chính xác của kết quả.

3.2. Các Chỉ Tiêu Đánh Giá

Các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, số lá, và năng suất được theo dõi và đánh giá trong suốt quá trình nghiên cứu.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Ảnh Hưởng Của Axit Humic

Kết quả cho thấy rằng việc bón axit humic với liều lượng 10 kg/ha mang lại hiệu quả cao nhất về sinh trưởng và năng suất cho cây đậu nành rau. Năng suất thực thu đạt 8,75 tấn/ha, cho thấy tiềm năng lớn của phương pháp này.

4.1. Ảnh Hưởng Đến Sinh Trưởng Cây Đậu Nành

Cây đậu nành rau được bón 10 kg/ha axit humic có chiều cao và số lá cao nhất, cho thấy sự phát triển vượt trội so với các nghiệm thức khác.

4.2. Năng Suất Và Hiệu Quả Kinh Tế

Năng suất cao nhất đạt được khi bón 10 kg/ha axit humic, mang lại lợi nhuận cao cho nông dân. Điều này chứng tỏ rằng axit humic là một giải pháp hiệu quả cho canh tác bền vững.

V. Kết Luận Về Ảnh Hưởng Của Axit Humic Đến Cây Đậu Nành Rau

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng axit humic có tác động tích cực đến sự sinh trưởng và năng suất của cây đậu nành rau tại TP.HCM. Việc áp dụng axit humic không chỉ giúp cải thiện năng suất mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Về Axit Humic

Cần tiếp tục nghiên cứu để xác định liều lượng tối ưu và các ứng dụng khác của axit humic trong nông nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.

5.2. Khuyến Nghị Cho Nông Dân

Nông dân nên xem xét việc sử dụng axit humic như một phần trong chiến lược canh tác bền vững, nhằm tối ưu hóa năng suất và lợi nhuận.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của lượng axit humic đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây đậu nành rau glycine max l merrill trên nền đất xám tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về cây đậu nành rau Đậu nành rau (vegetable soybean) có tên khoa học là Glycine max (L.) Merrill thường được sử dụng khi trái còn non. Mang giá trị dinh dưỡng cao và hiệu quả kinh té. Cây đậu nành rau là cây trồng cạn ngắn ngày có tác dụng nhiều mặt. Sản pham của nó làm thực pham cho con người, thức ăn cho gia súc và nguyên liệu cho công nghiệp, hàng xuất khẩu và là cây cải tạo đất tốt.

Một ha trồng đậu nành rau nếu sinh trưởng và phát triển tốt dé lại trong đất từ 30 Kg - 60 Kg N (Trần Văn Điền, 2007). Đậu nành rau có hạt và quả to hơn đậu nành ăn hạt thường. Ở dạng quả non thường được chế biến làm các món ăn như luộc, xảo nấu, salad. Ở dạng quả giả thường được sử dụng làm nguyên liệu cho công nghiệp như ép dau, làm bột.

Trong 100 g hạt non có 11,4 g protein; 6,6 g lipid; 7,4 g hydratcacbon; 15,6 g chat so dé tiéu; 70 mg canxi; 140 mg photpho; 140 mg kali; 100 mg vitaminA; 27 g vitamin C; ngoài ra con có các khoáng chất và vitamin khác như sắt, natri, vitamin B1, B2, B3 (Masuda, 1991). Hạt đậu nành rau ở dạng khô tuy ít được sử dụng hơn nhưng vẫn có nhiều chất dinh dưỡng (Trần Văn Điền, 2007). Trong hạt khô có hơn 40% protein, khoảng 20% lipit, 33% hydratcacbon, 6% chat sơ và 5% tro tính trên một don vị khối lượng hạt khô (Shamugasundaram, 1996). Phân tích sinh hóa cho thấy trong hạt đậu nành rau dang nảy mầm ngoài hàm lượng vitamin C cao, còn có các thành phần dinh dưỡng khác như vitamin PP, và nhiều chất khoáng như Ca, P, Fe (Trần Văn Điền, 2007).

Ngoài ra lá và thân của cây đậu nành rau còn dùng làm thức ăn cho gia súc. Trong hạt đậu nành rau đang nảy mam hàm lượng vitamin được tăng lên nhiều đặc biệt là vitamin C. Vì thế cây đậu nành rau còn được gọi là “ Ông Hoàng trong các loại cây họ đậu” (Trần Văn Điền, 2007).1 Đặc tính thực vật học Rễ: là rễ cọc, rễ tập trung ở tầng đất mặt 30 - 40 em, độ ăn lan khoảng 20 - 40 em. Trên bộ rễ của cây đậu nành rau có nhiều nốt san, các nốt san này chứa hàng tỷ vi khuẩn Rhizobium japonicum sống cộng sinh với rễ của cây đậu nành rau và có khả năng tông hợp đạm cung cấp cho cây (Phạm Văn Thiều, 2002).

Thân: Thân cây đậu nành rau hình tròn, có nhiều lông, mang nhiều đốt, chiều dài của các đốt cũng thay đổi tùy theo giống. Thân khi còn non có màu xanh hoặc mau tim khi về già chuyên sang màu nâu nhạt, màu sắc của thân khi còn non có liên quan chặt chẽ với màu sắc của hoa sau này. Nếu thân lúc còn non màu xanh thì hoa màu trắng và nếu khi còn non thân có màu tím thì hoa có màu tím đỏ. Thân có trung bình 14 - 15 long, các long ở phía dưới thường ngắn, các lóng ở phía trên thường dai.

Tùy theo giống và thời vụ gieo mà chiều dài lóng có sự khác nhau thường biến động từ 3 - 10 em (Trần Văn Điền, 2007). Lá: Có các dạng lá theo từng thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây như lá mầm, lá đơn và lá kép có 3 lá chét. Lá mầm (tử diệp) lá mầm mới mọc có màu vàng hay xanh lục, khi tiếp xúc với ánh sáng thì chuyển sang màu xanh. Lá mầm chứa nhiều dinh dưỡng nuôi cây mầm, khi hết chất dinh dưỡng lá mầm khô héo đi.

Lá nguyên (lá đơn) lá nguyên xuất hiện sau khi cây mọc từ 2 ngày đến 3 ngày và mọc phía trên lá mầm. Lá đơn mọc đối xứng nhau. Lá đơn to màu xanh bóng là biểu hiện cây sinh trưởng tốt. Lá kép mỗi lá kép có 3 lá chét, có khi 4 - 5 lá chét.

Lá kép mọc so le, lá kép thường có màu xanh tươi khi già biến thành màu vàng nâu. Phần lớn trên lá có nhiều lông tơ. Các lá nằm cạnh chùm hoa nào giữ vai trò chủ chủ yêu cung cấp dinh dưỡng cho chùm hoa ấy. Nếu vì điều kiện nào đó làm cho lá bị úa vàng thì quả ở vị trí đó thường bị rụng hoặc lép (Trần Văn Điền, 2007).

Hoa: Hoa nhỏ có hình cánh bướm, hoa có màu tím hoặc trắng. Hoa phát sinh ở nách lá, đầu cành và đầu thân. Hoa mọc thành từng chùm, mỗi chùm có từ 1 - 10 hoa và thường có 3 - 5 hoa. Hoa đậu nành ra nhiều nhưng tỷ lệ rụng rất cao khoảng 30% có khi lên tới 80%.

Hoa đậu nành thuộc loại hoa đồng chu lưỡng tính trong hoa có nhị vanhuy, mỗi hoa gồm 5 lá đài, 5 cánh hoa, có 10 nhị và 1 nhụy. Các cánh hoa vươn ra khỏi lá dai từ ngày hôm trước và việc thụ phan xây ra vào sáng ngày hôm sau lúc 8 - 9 giờ sáng trước khi nụ hoặc hoa chưa nở hoàn toàn. Mùa hè hoa thường nở sớm hơn 4 mùa đông và thời gian nở hoa rất ngắn sáng nở chiều tàn. Hoa đậu nành thường thụ phan trước khi hoa nở và là cây tự thụ phan, ty lệ giao phan rất thấp chiếm trung bình 0,5 - 1,0% (Trần Văn Điền, 2007).

Quả: Số quả biến động từ 2 đến 20 quả ở mỗi chùm hoa và có thé đạt tới 400 quả trên một cây. Trung bình một quả có từ 2 đến 3 hạt. Quả đậu nành thắng hoặc hơi cong, có chiều dai từ 2 tới 7 cm hoặc hơn. Quả có màu sắc biến động từ vàng trắng tới vàng sam, nâu hoặc đen.

Da số ngoài vỏ quả có nhiều lông bao phủ, quả có màu xanh (có khả năng quang hợp đo có điệp lục), mỗi quả có từ 1 - 3 hạt (Trần Văn Điền, 2007).2 Yêu cầu ngoại cảnh Nhiệt độ: Ngưỡng nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng phát triển tốt 27°C đến 42°C. Nhiệt độ thích hợp cho hạt nảy mam 10°C - 120°C (Phạm Văn Thiéu, 2002), cây đậu nành có nguồn gốc ôn đới nhưng không phải là cây chịu rét, nếu trồng trong điều kiện nhiệt độ thấp thì thời gian sinh trưởng của cây sẽ kéo dài hơn, trong giai đoạn cây tích lũy chất khô mà gặp nhiệt độ thấp sẽ ảnh hưởng xấu đến sự chín của quả, và chất lượng không được tốt (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2003). Ánh sáng: Với cây đậu nành thì ánh sáng không chỉ là yếu tố quyết định quang hợp ma còn ảnh hưởng đến hoạt động có định đạm của các nốt san, nên sẽ ảnh hưởng đến sản lượng chất khô và năng suất thu hoạch (Phạm Văn Thiều, 2002). Đậu nành rất cần ánh sáng nhưng không cần ánh sáng gắt, cần nhất ở thời kỳ ra hoa kết trái.

Lượng mưa và âm độ: Cây đậu nành thích hợp với vùng có nhiệt độ tương đối cao, nhưng lại là cây chịu hạn kém. Tuy vậy, đậu nành cũng không thích nghi được với vùng có lượng mưa quá cao, mùa mưa kéo dài, lượng nước mưa trong năm đòi hỏi chỉ ở mức độ 700 mm và ẩm độ đất 50% (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2003). Nước: Tuy là cây trồng cạn nhưng nước cũng là yếu tô quan trong cũng là yếu tố hạn chế đến việc sản xuất đậu tương. Trong suốt quá trình canh tác từ gieo hạt đến lúc thu hoạch thì cây cần ít nhất 300 mm nước.

Ở giai đoạn ra hoa đậu qua va nuôi hat thì cần rất nhiều nước nếu thiếu nước vao lúc này thì hoa bị rụng nhiều giảm số lượng qua (Phạm Văn Thiéu, 2002). Đất: Đất trồng đậu nành rau không quá khắt khe, cây thích nghi với nhiều loại đất khác nhau như: đất phù sa, đất cát pha, đất thịt, đất bãi, đất đồi núi. Chỉ cần bón đầy đủ phân hưu cơ và phân vô cơ, thành phan cơ giới nhẹ, thoát nước tốt thì dat nao 5 cũng có thê trồng được. Tuy nhiên, đất tốt, đất nhẹ thì càng dễ trồng ít tốn công và đạt năng suất cao hơn đất xấu, đất nặng, pH thích hợp cho cây có thể sinh trưởng phát triển là 5,2 - 6,5 (Phạm Văn Thiéu, 2002).2 Tổng quan về axit humic Axit humic là một thành phần quan trọng của chất hữu cơ trong đất.

Chúng được hình thành do sự tích tụ và phân hủy không hoàn toàn tàn dư thực vật trong điều kiện yếm khí. Axit humic là nền tảng của tất cả các đất đai màu mỡ. Trong nhiều năm, chúng tích lũy trong đất, giúp đất tăng khả năng giữ nước, đinh dưỡng, là nguồn thức ăn cho các vi sinh vật có lợi cho đất. Day là cách dé giảm thiểu tổn thất chất dinh dưỡng, duy trì độ phì nhiêu của đất và đảm bảo phát triển bền vững của thiên nhiên.

Thành phần nguyên tố của axit humic chủ yếu bao gồm C, H, O, N. Hàm lượng các nguyên tố này khác nhau phụ thuộc vào loại đất, thành phần hóa học của tàn tích sinh vật. Trong điều kiện mùn hóa thì hàm lượng các nguyên tố như sau: 56,2% — 61,9% C; 3,4% — 4,8% H; 29,5% — 34,8% O; 3,5% — 4,7% N (Trần Văn Dũng, 2022).1 Tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của thực vật Tác động của axit humic là tác động gián tiếp hay trực tiếp đến sinh trưởng của cây. Các tác động gián tiếp chủ yếu được phát huy thông qua các đặc tính như: làm giàu chất dinh dưỡng trong đất, tăng mật độ vi sinh vật, khả năng trao đổi cation cao hơn, cải thiện cấu trúc đất; trong khi đó tác động trực tiếp là các hoạt động sinh hóa khác nhau tác động vào thành tế bào, màng hoặc tế bảo chất và chủ yếu là bản chất nội tiết tố.

Các hoạt động giống như nội tiết tố của axit humic được ghi lại rõ rang trong các bai báo khác nhau, đặc biệt là các hiệu ứng phụ trợ, cytokinin và gibberellin. Trực tiếp, chúng ảnh hưởng đến các quá trình liên quan đến sự hấp thu và vận chuyển các chất humic vào các mô thực vật (Nardi, 2002) (Trích dẫn bởi Trần Văn Dũng, 2022).2 Sự phát triển của rễ Sự kết hợp của axit humic vào đất kích thích sự phát triển của rễ cũng như kích thích sự phân nhánh và bắt đầu của rễ tơ và một phần có thể được cho là do tăng cường hấp thu dinh dưỡng. Một số nghiên cứu cho thấy axit humic làm tăng chiều dài rễ, số rễ và sự phân nhánh của rễ. Kích thích tăng trưởng rễ nói chung rõ ràng hơn so với tăng trưởng chồi (Nardi, 2002).

Các chất humic có ảnh hưởng rất mạnh đến sự phát triển của rễ cây.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ảnh Hưởng Của Axit Humic Đến Sinh Trưởng Và Năng Suất Cây Đậu Nành Rau Tại TP.HCM" khám phá vai trò quan trọng của axit humic trong việc cải thiện sinh trưởng và năng suất của cây đậu nành rau. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng axit humic không chỉ giúp cây phát triển mạnh mẽ hơn mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm thu hoạch. Điều này mang lại lợi ích lớn cho nông dân và những người làm trong ngành nông nghiệp, giúp họ tối ưu hóa quy trình canh tác và tăng cường hiệu quả kinh tế.

Để mở rộng thêm kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, bạn có thể tham khảo tài liệu Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của phân bón hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất dưa lưới, nơi nghiên cứu về tác động của phân bón hữu cơ trong điều kiện tương tự. Ngoài ra, tài liệu Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng của giống ngô nếp lai hn88 cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng của phân bón đến năng suất cây trồng. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và thời vụ đến sinh trưởng phát triển năng suất, giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố khác ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và áp dụng vào thực tiễn canh tác hiệu quả hơn.