Chương 1 trình bày tổng quan về sự hình thành nghiên cứu, mục tiêu, ý nghĩa và phương pháp nghiên cứu làm cơ sở cho định hướng nghiên cứu ở những chương tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này sẽ đề cập đến cơ sở lý thuyết, giải thích một số khái niệm cơ bản và xem xét các mô hình nghiên cứu liên quan đã thực hiện tại thị trường các nước để làm cơ sở đề xuất mô hình cho nghiên cứu này.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) 2.1 Khái niệm Thuật ngữ “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” (CSR) được xuất hiện cách đây khoảng gần 50 năm khi Bowen,H.R một chuyên gia nghiên cứu tổ chức, đề cập đến trong cuốn sách “Social responsibilities of the Businessmen” vào năm 1953. Trong cuốn sách này, CSR được Bowen xác định là trách nhiệm của chủ các doanh nghiệp không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác; chủ doanh nghiệp phải có lòng từ thiện và bù đắp những thiệt hại do doanh nghiệp mình gây ra khi làm tổn hại cho xã hội… Tuy nhiên, thuật ngữ này cho đến nay được hiểu dưới nhiều giác độ khác nhau: Theo Sethi (1975) cho rằng: “CSR là nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến”. Những người theo quan điểm này lập luận rằng doanh nghiệp không có trách nhiệm với xã hội bởi doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động kinh doanh đã phải đóng thuế cho nhà nước và vì vậy, doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm với cổ đông và người lao động của doanh nghiệp mà thôi.
Nếu trường phái trên cho rằng trách nhiệm duy nhất của các doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận tối đa cho các cổ đông, thì càng ngày càng nhiều người đồng thuận với Liên minh Châu Âu khi cho rằng doanh nghiệp phải quan tâm đến các cá nhân và các nhóm có thể bị tác động bởi hoạt động của doanh nghiệp hay có thể ảnh hưởng đối với các hoạt động đó. Trong trường hợp này, doanh nghiệp được gán cho vai trò làm thỏa mãn mọi thành phần có liên quan và trở thành nơi phân định các lợi ích khác nhau cho các thành phần có liên quan đó. Yêu cầu này có thể lớn hoặc nhỏ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 tùy theo các thành phần được xem xét: có những thành phần mà doanh nghiệp có các mối quan hệ khế ước (những người lao động, những nhà cung ứng, các khách hàng…), và những thành phần mà doanh nghiệp không có bất cứ mối quan hệ khế ước nào (các nhóm lợi ích khác nhau, chẳng hạn những người sống gần nơi hoạt động của doanh nghiệp hoặc những người bảo vệ thiên nhiên). Mỗi tổ chức, doanh nghiệp, chính phủ nhìn nhận CSR dưới những góc độ và quan điểm riêng, phụ thuộc vào điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển của mình.
Davis (1973) đưa ra một khái niệm khá rộng “CSR là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp đối với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ”. Theo Carroll (1979), CSR đã được phát triển vào đầu những năm 1930. CSR có thể được định nghĩa là xử lý các bên liên quan của doanh nghiệp có đạo đức hoặc trong một cách có trách nhiệm. CSR là một khái niệm theo đó các tổ chức xem xét lợi ích của xã hội bằng cách chịu trách nhiệm về tác động của các hoạt động của mình đối với các bên liên quan cũng như môi trường.
Một số nhà nghiên cứu khác, đại diện là Carroll và Bowen (1991) cũng khẳng định CSR là sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Những người theo quan điểm này nghiêng về quan điểm cho rằng các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh doanh tại thị trường nào đó, họ đã sử dụng nguồn lực của xã hội, khai thác nguồn lực tự nhiên và trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh, họ gây ra không ít tổn hại đối với môi trường tự nhiên và xã hội. Vì lẽ đó, ngoài việc đóng thuế, doanh nghiệp còn phải có trách nhiệm xã hội với môi trường, cộng đồng và người lao động. Carroll (1991) đề xuất bốn cấp độ (kim tự tháp) của CSR: trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện.
Dựa trên bốn thành phần, CSR nhằm tạo ra lợi nhuận, tuân thủ pháp luật, có đạo đức, và là một công dân tốt. Trách nhiệm xã hội về kinh tế và pháp lý là nền tảng cơ bản của CSR. Trách nhiệm xã hội về đạo đức và từ thiện được đặt ở vị trí cao của kim tự tháp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Trách nhiệm TỪ THIỆN Là một công dân tốt.
Tham gia vào các chương trình thúc đẩy phúc lợi xã hội. Trách nhiệm ĐẠO ĐỨC Có đạo đức. Các tổ chức kinh doanh dự kiến sẽ làm những gì là đúng, công bằng, mặc dù nó không được quy định trong pháp luật Trách nhiệm PHÁP LÝ Tuân thủ luật pháp. Nghĩa vụ theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ của pháp luật Trách nhiệm KINH TẾ Được lợi nhuận.
Là động lực chính cho các tổ chức kinh doanh trong sản xuất hàng hóa, dịch vụ cho xã hội và làm tăng lợi nhuận. Kim tự tháp trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp của Carroll (Nguồn: Carroll, 1991) Trong khi đó, Carroll (1999) cho rằng CSR còn có phạm vi lớn hơn “là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức, và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định”. Lantos (2001) đã lập luận rằng CSR là “nghĩa vụ của tổ chức để tối đa hóa những tác động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực trở thành một thành viên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 đóng góp cho xã hội”. Mohr, Webb và Harris (2001) xác định trách nhiệm xã hội như “cam kết của doanh nghiệp trong việc giảm thiểu hoặc loại bỏ bất kỳ tác động có hại và tối đa hóa tác động có lợi lâu dài của nó đối với xã hội”.
Các tác giả đề cập đến hành vi trách nhiệm xã hội bao gồm một loạt các hành động, chẳng hạn như hành xử có đạo đức, hỗ trợ cho các tổ chức phi lợi nhuận, ứng xử với nhân viên một cách công bằng và giảm thiểu thiệt hại cho môi trường. Theo Matten và Moon (2004): “CSR là một khái niệm chung bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường. Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”. Như vậy, bản chất của CSR là quan điểm về vai trò của doanh nghiệp trong mối tương quan với vai trò của nhà nước khiến khái niệm CSR luôn biến đổi, luôn mới tùy thuộc không những phạm vi không gian mà còn thời gian nơi cuộc tranh luận về CSR diễn ra.
EK (2006), CSR được định nghĩa là “trách nhiệm hoạt động, mà bắt nguồn từ những giá trị của doanh nghiệp, mục tiêu và các hoạt động của các bên liên quan”. CSR được xây dựng trên nguyên tắc kinh tế, môi trường và xã hội. Mục đích là để thực hiện phát triển bền vững của doanh nghiệp một cách tự nguyện. Ủy ban châu Âu (2006) đã đề xuất một định nghĩa tương đương về trách nhiệm xã hội như "Một khái niệm theo đó các doanh nghiệp tích hợp vấn đề xã hội và môi trường trong hoạt động kinh doanh của họ và trong sự tương tác của họ với các bên liên quan trên cơ sở tự nguyện".
Cả hai khái niệm nhấn mạnh tầm quan trọng của sự đóng góp tự nguyện của doanh nghiệp, hợp tác với các bên liên quan, các vấn đề xã hội và môi trường. Thông qua CSR, mọi doanh nghiệp có thể thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện các chiến lược dài hạn nhằm giúp xây dựng (hoặc xây dựng lại) lòng tin của người tiêu dùng vào doanh nghiệp, và để từ đó đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế bền vững và kỳ vọng của khách hàng. Thực hiện CSR có thể dung hòa những tham vọng kinh tế, xã hội và môi trường, CSR đã dần dần trở thành một khái niệm quan trọng trên toàn cầu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Một trong các định nghĩa được sử dụng nhiều nhất đó là theo chuyên gia của Ngân hàng Thế giới (WB): “CSR là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, hợp tác cùng người lao động, gia đình họ, cộng đồng và xã hội nói chung để cải thiện chất lượng cuộc sống cho họ, sao cho vừa tốt cho doanh nghiệp vừa ích lợi cho phát triển”.
Ngày nay, CSR đã trở nên phổ biến. Nhưng vẫn có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm, nội dung và phạm vi của CSR. Trong số đó, mô hình “kim tự tháp” của Carroll (1991) có tính toàn diện và được sử dụng rộng rãi nhất.2 Lợi ích khi doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội Khẳng định của ông Martin Neureiter là chuyên gia cao cấp, Trưởng ban phụ trách triển khai ISO 26000: “Chúng ta đừng nên coi CSR là một gánh nặng mà nên coi đó là cơ hội, là mục đích tự thân, là một kinh nghiệm để doanh nghiệp hoạt động tốt hơn chứ không phải là một gánh nặng của chi phí, áp lực từ phía Nhà nước. Do đó, hãy tìm các giải pháp để phát triển tốt hơn cho nơi mình đang sống”.
Về cơ bản, doanh nghiệp thực hiện CSR mang lại lợi ích sau: Một là, giảm chi phí và tăng hiệu quả trong sản xuất: Nhiều chuyên gia kinh tế trên thế giới nhận định rằng các doanh nghiệp có thể tiết kiệm đáng kể chi phí nếu thực hiện CSR tốt. Một hệ thống quản lý nhân sự hiệu quả cũng giúp doanh nghiệp cắt giảm chi phí và tăng năng suất lao động đáng kể. Chế độ lương thưởng hợp lý, môi trường lao động an toàn, đặc biệt là các cơ hội đào tạo, thăng tiến được doanh nghiệp chú trọng, luôn thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người lao động…sẽ tạo động lực giúp người lao động gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, giảm số lượng lao động bỏ việc…; điều này góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hai là, thực hiện trách nhiệm xã hội giúp doanh nghiệp có khả năng tăng doanh thu: Hindustan Lever là một chi nhánh của tập đoàn Unilever hoạt động kinh doanh tại Ấn Độ.