CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về cấu trúc vốn 1. Khái niệm Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp thường sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau để tài trợ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp mình. Cơ cấu vốn là quyết định rất quan trọng đối với các doanh nghiệp để họ có thể tối đa hóa lợi nhuận cho các bên liên quan khác nhau.
Hơn nữa, một cơ cấu vốn phù hợp cũng rất quan trọng đối với doanh nghiệp vì nó sẽ giúp đối phó với môi trường cạnh tranh mà doanh nghiệp hoạt động. Trên thực tế, có rất nhiều nghiên cứu đưa ra những quan điểm khác nhau về khái niệm cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Theo nhận định của Ross, Westerfield và Jordan (2003): “Cấu trúc vốn của doanh nghiệp là sự kết hợp giữa việc sử dụng nợ và vốn chủ sở hữu theo một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Nói cách khác, cấu trúc vốn là sự tương quan giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho hoạt động của mình.
Abor (2005) lại cho rằng: “Cấu trúc vốn của một doanh nghiệp thực chất là sự kết hợp của nhiều loại chứng khoán khác nhau”. Nói chung, một doanh nghiệp có thể lựa chọn trong số nhiều cơ cấu vốn thay thế, họ có thể phát hành một số nợ lớn hoặc rất ít nợ. Doanh nghiệp có thể thu xếp việc cho thuê tài chính, sử dụng chứng quyền, phát hành trái phiếu chuyển đổi, ký hợp đồng kỳ hạn hoặc giao dịch hoán đổi trái phiếu. Doanh nghiệp có thể phát hành hàng chục loại chứng khoán khác nhau với vô số sự kết hợp; tuy nhiên, doanh nghiệp sẽ cố gắng tìm ra sự kết hợp hợp lý để tối đa hóa giá trị thị trường tổng thể cho doanh nghiệp mình.
Theo Baker và Martin (2011), cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các tài sản sản xuất, hoạt động và tăng trưởng trong tương lai. Nó là yếu tố quyết định trực tiếp đến tổng chi phí vốn và góp 12 phần vào tổng mức rủi ro của doanh nghiệp. Việc lựa chọn các tỷ lệ nợ khác nhau giữa các nguồn tài chính hỗn hợp có thể ảnh hưởng lớn đến giá trị doanh nghiệp và do đó đến sự giàu có của các cổ đông. Theo Hoàng Trung Đức (2019): “Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp được hiểu là mối tương quan tỷ lệ giữa nợ vay ngắn hạn, nợ vay dài hạn và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp huy động để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh nghiệp”.Tuy nhiên, theo Vũ Thị Ngọc Lan (2014): “Cấu trúc vốn của doanh nghiệp là mối tương quan tỷ lệ giữa nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp”.
Theo quan điểm này, nợ ngắn hạn không được xem xét là một trong các yếu tố cấu thành cấu trúc vốn của doanh nghiệp, vì nợ ngắn hạn mang tính chất tạm thời và không ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy, có thể thấy có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm cấu trúc vốn, mỗi quan điểm lại có những góc nhìn, cách lý giải riêng, phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng nghiên cứu. Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu để hình thành nên tài sản của doanh nghiệp, góp phần tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời tạo nên nền tảng vững chắc cho sự ổn định, phát triển của doanh nghiệp. Thành phần của cấu trúc vốn và các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Thành phần của cấu trúc vốn. Vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần. Vốn chủ sở hữu hình thành từ số tiền góp vốn của các nhà đầu tư, tổng số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ( lợi nhuận chưa phân phối) và chênh lệch đánh giá lại tài sản.
Các doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng cách: vốn góp chủ sở hữu ban đầu, tăng vốn góp của các thành viên hoặc huy động vốn góp của các thành viên mới, phát 13 hành cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường, giữ lại lợi nhuận sau thuế không chia cổ tức để tái đầu tư. Nợ phải trả Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các sự kiện và giao dịch đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình. Căn cứ theo thời hạn nợ của một doanh nghiệp, nợ phải trả của doanh nghiệp bao gồm nợ dài hạn và nợ ngắn hạn. Nợ dài hạn là khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong thời gian lớn hơn một năm, bao gồm: các khoản vay dài hạn, trái phiếu phát hành, các khoản phải trả thương mại và phải trả dài hạn khác, dự phòng phải trả dài hạn.
Nợ dài hạn có chi phí vốn cao và được dùng để tài trợ cho tài sản dài hạn và một phần tài sản ngắn hạn. Nợ ngắn hạn là các khoản nợ doanh nghiệp có trách nhiệm trả trong thời hạn không quá một năm hoặc trong một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường, bao gồm: các khoản nợ ngân hàng ngắn hạn, nợ phải trả người bán, nợ tiền lương của người lao động, thương phiếu, thuế thu nhập doanh nghiệp định kỳ và các khoản ngắn hạn khác. Nợ ngắn hạn có chi phí vốn thấp và được dùng để tài trợ vào tài sản ngắn hạn. Chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Cấu trúc vốn của DN được đo lường thông qua một số chỉ tiêu cơ bản sau: (1) Hệ số nợ Hệ số nợ cho biết trong một đồng vốn mà doanh nghiệp huy động được có bao nhiêu đồng được huy động từ các khoản nợ phải trả. Công thức xác định: Hệ số nợ = Nợ phải trả / Tổng nguồn vốn = Nợ phải trả / Tổng tài sản Chỉ tiêu này thể hiện việc sử dụng nợ trong cơ cấu nguồn vốn. Doanh nghiệp có hệ số nợ cao sẽ phụ thuộc nhiều bởi nợ vay, khi đó tính độc lập, tự chủ thấp và ngược lại, doanh nghiệp nào sử dụng càng ít nợ vay thì tính độc lập, tự chủ cao hơn. Nếu mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp cao (hệ số nợ cao), điều này có thể 14 khuếch đại tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu nhưng tuy nhiên nó cũng có thể khiến doanh nghiệp gặp rủi ro lớn, có thể dẫn tới mất vốn, thậm chí phá sản.
Thông qua hệ số nợ, nhà quản trị tài chính sẽ đánh giá được mức độ độc lập tự chủ về tài chính, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính và rủi ro tài chính có thể gặp phải để từ đó điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn phù hợp. (2) Hệ số vốn chủ sở hữu Hệ số vốn chủ sở hữu cho biết trong một đồng vốn mà doanh nghiệp huy động được có bao nhiêu đồng do các chủ sở hữu đóng góp. Hệ số này phản ánh mức độ tự chủ tài chính bàng chính sự đóng góp của vốn chủ sở hữu trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Công thức xác định: Hệ số VCSH = Vốn chủ sở hữu / Tổng nguồn vốn = 1 – Hệ số nợ Hệ số VCSH lớn hơn 0,5 có nghĩa là cấu trúc vốn của doanh nghiệp đa phần là từ VCSH.
Doanh nghiệp có hệ số VCSH càng cao chứng tỏ mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp càng cao và không bị phụ thuộc vào nguồn vốn vay bên ngoài. Tuy nhiên, doanh nghiệp có hệ số VCSH cao mà số VCSH do nhiều nhà đầu tư đóng góp thì người lãnh đạo DN gặp rất nhiều vấn đề khó khăn trong việc quản lý điều hành doanh nghiệp vì bị các chủ sở hữu can thiệp theo tỷ lệ góp vốn; chịu áp lực khi quyết định các vấn đề trong điều hành doanh nghiệp. Đồng thời lãnh đạo doanh nghiệp cũng phải chịu áp lực do kỳ vọng về lợi nhuận của các nhà đầu tư. (3) Hệ số nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng vốn doanh nghiệp huy động có bao nhiêu đồng được vay từ nợ ngắn hạn.
Công thức xác định: Hệ số nợ ngắn hạn =Nợ ngắn hạn / Tổng nguồn vốn x100% = Nợ ngắn hạn / Tổng tài sản x100% (4) Hệ số nợ dài hạn 15 Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng vốn doanh nghiệp huy động có bao nhiêu đồng được vay từ nợ dài hạn. Công thức xác định: Hệ số nợ dài hạn = Nợ dài hạn / Tổng nguồn vốn x100% = Nợ dài hạn / Tổng tài sản x100% Chỉ tiêu hệ số nợ ngắn hạn và hệ số nợ dài hạn phản ánh cấu trúc vốn theo thời gian. Hai chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa nguồn vốn với việc đầu tư vào tài sản, cho biết doanh nghiệp sử dụng mô hình tài trợ nào để tài trợ cho tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Phân tích chỉ tiêu này sẽ là cơ sở để đánh giá về rủi ro trong việc hoạch định cấu trúc vốn.
(5) Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu= Nợ phải trả / Vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu phản ánh tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp mình. Hệ số này càng lớn (lớn hơn 1) chứng tỏ doanh nghiệp huy động nguồn vốn vay nhiều hơn so với vốn chủ sở hữu và nợ phải trả đóng một vai trò quan trọng trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu hệ số này nhỏ hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp chủ yếu sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp. Lý thuyết nền tảng về cấu trúc vốn 1.
Theo quan điểm truyền thống Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam từ trước đến nay đều đưa ra rất nhiều các lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp hay những bàn luận về ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Theo quan điểm truyền thống về cấu trúc vốn, các nhà nghiên cứu đưa ra lý thuyết về cấu trúc vốn tối ưu.