Mở đầu − Chương 2: Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp − Chương 3: Thiết kế nghiên cứu − Chương 4: Kết quả nghiên cứu − Chương 5: Kết luận và một số đề xuất, kiến nghị 4 Thư viện ĐH Thăng Long CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 2. Tổng quan về cấu trúc vốn của doanh nghiệp 2. Khái niệm cấu trúc vốn của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh.
Cấu trúc vốn của doanh nghiệp đề cập đến nguồn vốn của một doanh nghiệp tài trợ cho số tài sản của mình từ hỗn hợp vốn sở hữu và nợ. Theo Ahmad và cộng sự (2012), cấu trúc vốn là quan hệ tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp để tài trợ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Theo Trần Ngọc Thơ (2005), thì “Cấu trúc vốn được định nghĩa là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp”. Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển (2008) cho rằng, cấu trúc nguồn vốn là thể hiện tỷ trọng các nguồn vốn trong tổng giá trị nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động nhằm sử dụng vào các hoạt động kinh doanh Tóm lại, có thể hiểu rằng, cấu trúc vốn đề cập đến sự kết hợp với một tỷ lệ cụ thể của nợ và vốn chủ sở hữu được doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho một dự án hoặc một quyết định đầu tư.
Nợ được phát hành dưới dạng trái phiếu hoặc các khoản đi vay, trong khi đó vốn chủ sở hữu có thể ở dạng cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi hoặc lợi nhuận để lại. Quyết định về cấu trúc nguồn vốn là vấn đề hết sức quan trọng của doanh nghiệp bởi lẽ đây là một trong các yếu tố quyết định trực tiếp đến chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC), bên cạnh đó cấu trúc vốn cũng ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập trên một cổ phần và rủi ro tài chính của một doanh nghiệp. Các yếu tố cấu thành cấu trúc vốn của doanh nghiệp Vốn là một yếu tố và là tiền đề cần thiết cho việc hình thành và phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Để biến những ý tưởng và kế hoạch kinh doanh thành hiện thực, đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định nhằm hình thành nên những tài sản cần thiết phục vụ cho hoạt động sản xuất để đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra.
Để tổ chức và lựa chọn hình thức huy động vốn một cách thích hợp và có hiệu quả hay để xây dựng một cấu trúc vốn tối ưu, cần có sự phân loại các nguồn vốn. Dựa 5 theo quan hệ sở hữu vốn, có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành hai loại: Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu. (1) Nợ phải trả: Là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác nhau như: nợ vay, các khoản phải trả cho người bán, cho nhà nước, cho người lao động trong doanh nghiệp,…. Nợ phải trả bao gồm Nợ ngắn hạn và Nợ dài hạn.
Nợ ngắn hạn: Là các nguồn tài trợ có tính chất ngắn hạn (không quá 12 tháng hoặc trong 1 chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường) doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu mang tính tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn tài trợ từ nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các nguồn nợ ngắn hạn khác,… cụ thể: − Nợ phải trả có tính chất chu kì: Các khoản phải trả cho người lao động và các khoản phải nộp khác, các khoản này có thể gọi là nợ tích lũy, phát sinh thường xuyên trong hoạt động kinh doanh tuy nhiên chưa đến kỳ thanh toán. Những khoản này bao gồm tiền lương, tiền công trả cho người lao động (nhưng chưa đến kỳ trả); các khoản thuế, bảo hiểm xã hội phải nộp (nhưng chưa đến kỳ nộp). − Tín dụng nhà cung cấp: Là việc mua chịu, bán chịu giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng vật tư, hàng hoá dịch vụ.
Hình thức này chiếm vị trí quan trọng trong nguồn tài trợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Được nhận vật tư, tài sản, dịch vụ để hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng chưa phải thanh toán ngay, điều đó rất có lợi cho doanh nghiệp. − Tín dụng ngân hàng: Nguồn vốn các ngân hàng thương mại tài trợ là một nguồn tài trợ đặc biệt của doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng có thể cho các doanh nghiệp vay ngắn hạn với thời gian tối đa là 12 tháng. Thời hạn và lãi suất cho vay được xác định cụ thể dựa trên hoàn cảnh của doanh nghiệp và quy định của pháp luật khi ký kết hợp đồng tín dụng.
− Chiết khấu thương phiếu: Thương phiếu là chứng chỉ có giá trị nhận lệnh yêu cầu thanh toán, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong thời gian xác định. Nguồn vốn vay ngắn hạn này thường có ức chi phí thấp hơn các hình thức vay ngắn hạn khác, vì mức lãi suất chiết chấu thường thấp hơn lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại Ngoài các nguồn nợ ngắn hạn kể trên, doanh nghiệp còn có thể sử dụng các nguồn khác để tài trợ nhu cầu sản xuất kinh doanh trong tạm thời, như các khoản tiền đặt cọc, tiền ứng trước của khách hàng, các khoản cho vay theo hợp đồng cụ thể,… 6 Thư viện ĐH Thăng Long Nợ dài hạn: Là một thỏa ước tín dụng dưới dạng hợp đồng giữa người vay và người cho vay, theo đó người vay có nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền vay theo lịch trình đã định. Các khoản vay dài hạn có thời gian trên 1 năm, có chi phí tài trợ thấp và tính linh hoạt cao hơn. − Vay dài hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng: Theo Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển (2008), trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay dài hạn ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các dự án đầu tư mới, mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, trong những trường hợp nhất định, các doanh nghiệp có thể huy động vốn vay trung và dài hạn từ các tổ chức tài chính – tín dụng khác như các doanh nghiệp tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm hay quỹ hỗ trợ phát triển. Tuy nhiên, do hạn chế về vốn điều lệ hoặc sự giới hạn của luật pháp về huy động vốn, quy mô nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng có thể có nhiều hạn chế. Đó là những hạn chế về điều kiện tín dụng, sự kiểm soát của các ngân hàng đối với việc huy động và sử dụng tiền vay, và chi phí sử dụng vốn (lãi suất). Ngoài ra, các ngân hàng thường đặt trọng tâm vào thị trường tín dụng ngắn hạn (hiện nay cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng khoảng 70% tổng hạn mức tín dụng của ngân hàng); vì vậy, việc huy động nguồn vốn vay dài hạn của các doanh nghiệp từ các ngân hàng thương mại chỉ có giới hạn nhất định.
Thông thường, các khoản vay từ 3 năm trở lên (có nơi tính 5 năm) được coi là vay dài hạn; còn các khoản vay từ 1 đến 3 năm được coi là vay trung hạn. − Trái phiếu doanh nghiệp: Trái phiếu doanh nghiệp là chứng chỉ vay vốn do doanh nghiệp phát hành thể hiện nghĩa vụ và sự cam kết của doanh nghiệp trong việc thanh toán số lợi tức và tiền vay vào những thời hạn xác định cho người nắm giữ trái phiếu. Thông qua việc sử dụng trái phiếu, doanh nghiệp có thể thực hiện vay trung và dài hạn trên thị trường với một khối lượng lớn. Doanh nghiệp là người phát hành trái phiếu với tư cách là người đi vay, người mua trái phiếu là người cho vay (hay còn gọi là trái chủ).
(b) Vốn Chủ sở hữu: Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, bao gồm vốn chủ sở hữu bỏ ra và phần bổ sung từ kết quả kinh doanh. Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm có thể xác định bằng công thức: Vốn CSH được cấu thành từ 3 thành phần chính: − Cổ phiếu thường: Là chứng chỉ do doanh nghiệp phát hành nhằm xác nhận quyền sở hữu trong doanh nghiệp và cho phép người sở hữu nó được hưởng các quyền lợi thông thường trong doanh nghiệp cổ phần. Cổ đông thường – người góp vốn cổ phần thường và sở 7 hữu cổ phiếu thường của doanh nghiệp cổ phần – được hưởng các quyền lợi chủ yếu như: quyền được quản lý và tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp; quyền đối với tài sản của doanh nghiệp (khi doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản, cổ đông được quyền nhận một phần tài sản còn lại của doanh nghiệp sau khi đã thanh toán hết các khoản nợ, chi phí và thanh toán cho các cổ đông ưu đãi); quyền chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần. − Cổ phiếu ưu đãi: Là chứng chỉ do doanh nghiệp phát hành nhằm xác nhận quyền sở hữu trong doanh nghiệp cổ phần khi cá nhân hay tổ chức góp vốn cổ phần ưu đãi, đồng thời cho phép người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một số quyền lợi ưu đãi hơn so với cổ đông thường.
− Lợi nhuận để lại: Hàng năm các doanh nghiệp có thể sử dụng một phần lợi nhuận sau thuế để bổ sung tăng vốn, tự đáp ứng những nhu cầu phát triển và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển, 2008). Các lý thuyết về cấu trúc vốn − Lý thuyết của Modigliani và Miller (Modigliani-Miller theorems – M&M): Lý thuyết MM được hai nhà kinh tế học Franco Modigliani và Merton Miller công bố lần đầu tiên vào năm 1958 là lý thuyết đầu tiên về cấu trúc vốn của doanh nghiệp, đặt nền móng cho các cơ sở lý thuyết và nghiên cứu sau này ra đời.