Tổng quan luận án
Nghiên cứu về sự tiếp biến văn hóa và chuyển hóa ngôn ngữ âm nhạc trong nền khí nhạc Việt Nam hiện đại là một nội dung quan trọng của ngành Âm nhạc học. Trong truyền thống âm nhạc cổ truyền của người Việt, nhạc cụ dân tộc chủ yếu diễn tấu dưới hình thức hòa tấu lòng bản trong các biên chế như hòa tấu bát âm, nhã nhạc cung đình Huế, đờn ca tài tử hoặc giữ vai trò đệm cho sân khấu kịch hát dân tộc (tuồng, chèo, cải lương) và các hình thức ngâm thơ, hát văn. Hình thức một nhạc cụ dân tộc diễn tấu độc tấu cùng dàn nhạc gần như không tồn tại, ngoại trừ một số trường hợp hãn hữu trong âm nhạc cung đình và nghệ thuật tuồng.
Từ năm 1956, khi Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) được thành lập, các nhạc sĩ và nghệ sĩ diễn tấu nhạc cụ truyền thống bắt đầu được đào tạo bài bản về hệ thống lý thuyết, kỹ thuật sáng tác và ký âm của phương Tây. Quá trình tiếp thu này đã thúc đẩy sự ra đời của các tác phẩm mới viết cho nhạc cụ dân tộc với hệ thống ghi âm trên khuông nhạc năm dòng kẻ. Dù số lượng tác phẩm gia tăng liên tục trong gần 70 năm qua và giữ vai trò cốt lõi trong biểu diễn chuyên nghiệp lẫn đào tạo học thuật, các công trình trước đây phần lớn mới chỉ nghiên cứu cục bộ theo từng tác giả hoặc từng nhạc cụ đơn lẻ. Hiện tượng tiếp nhận kỹ thuật phương Tây trên một diện mạo tác phẩm quy mô đồng bộ — cụ thể là tuyển tập 5 tập Hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại do Viện Âm nhạc xuất bản năm 2002 — vẫn chưa được khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống.
Từ khoảng trống nghiên cứu trên, luận án tiến sĩ âm nhạc học của nghiên cứu sinh Nguyễn Anh Việt với đề tài "Ảnh hưởng âm nhạc phương Tây trong các tác phẩm viết cho nhạc cụ dân tộc của nhạc sĩ Việt Nam" (Mã số: 62 21 02 01, bảo vệ tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Phương Hoa) đã xác định các mục tiêu và phạm vi cụ thể:
- Mục tiêu nghiên cứu:
- Tìm ra những ảnh hưởng từ âm nhạc phương Tây trong bút pháp sáng tác cho nhạc cụ dân tộc của các nhạc sĩ Việt Nam như: hình thức, hòa âm, phối khí và kỹ thuật diễn tấu.
- Nghiên cứu một số tác phẩm mới viết cho nhạc cụ dân tộc để thấy được công lao đóng góp, sự tìm tòi sáng tạo của nhiều nhạc sĩ Việt Nam trong thời gian qua và phần nào hiểu rõ được tầm quan trọng của các tác phẩm hòa tấu dàn nhạc dân tộc đối với nền nghệ thuật âm nhạc Việt Nam.
- Tổng hợp những tác phẩm mới viết cho nhạc cụ dân tộc trong 5 tập Hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại của các nhạc sĩ Việt Nam theo dòng thời gian.
- Đối tượng nghiên cứu: Những ảnh hưởng từ âm nhạc phương Tây trong các tác phẩm mới viết cho nhạc cụ dân tộc.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn khảo sát ở các tác phẩm mới viết cho nhạc cụ dân tộc chịu ảnh hưởng từ âm nhạc phương Tây của các nhạc sĩ Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam (không nghiên cứu các tác giả định cư ở nước ngoài). Ngữ liệu phân tích thực chứng được cố định trong 52 tác phẩm đã in trong 5 tập Hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại do Viện Âm nhạc xuất bản năm 2002, bao quát giai đoạn sáng tác từ năm 1957 đến năm 2002.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu, khảo cứu lý luận và phê bình âm nhạc liên quan đến nhạc cụ và tác phẩm viết cho nhạc cụ dân tộc, phân chia thành hai nhóm nguồn tư liệu trong nước và quốc tế:
Về tài liệu trong nước:
- Thụy Loan (1993), Lược sử âm nhạc Việt Nam, chỉ ra mốc đầu thế kỷ XX khi lối ghi nhạc phương Tây trên năm dòng kẻ bắt đầu được du nhập để ghi chép âm nhạc dân gian, cùng hiện tượng Việt hóa các nhạc cụ phương Tây như ghi-ta phím lõm tham gia vào dàn nhạc cổ truyền.
- Nguyễn Viêm (1996), Lịch sử âm nhạc dân gian cổ truyền, khảo cứu các thể loại dân ca, nhạc cụ gõ, hơi, dây và sự tiếp thu văn hóa qua các thời kỳ lịch sử.
- Tú Ngọc (chủ nhiệm), Nguyễn Thị Nhung, Vũ Tự Lân, Nguyễn Ngọc Oánh, Thái Phiên (2000), Âm nhạc mới Việt Nam - tiến trình và thành tựu, đánh giá tiến trình phát triển của các tác phẩm độc tấu, hòa tấu từ sau năm 1954; nhận định việc ứng dụng các khúc thức kinh điển châu Âu (ba phần A-B-A', biến tấu, rondo, sonata) và khuynh hướng kết hợp nhạc khí phương Tây (oboe, cello, contrabass) vào dàn nhạc dân tộc.
- Võ Thanh Tùng (2001), Nhạc khí dân tộc Việt, phân loại 45 nhạc khí cổ truyền theo nguồn kích âm và vật chất chuyển động tạo âm thanh.
- Tô Vũ (2002), Âm nhạc Việt Nam truyền thống và hiện đại, cùng các bài viết của ông trên Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật (1973, 1974) về tính dân tộc và tính hiện đại của nhạc khí qua cải tiến hình dạng âm sắc.
- Viện Âm nhạc (2003), Hợp tuyển tài liệu nghiên cứu lý luận phê bình âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX (tập 3), tập hợp bài viết của Huy Trân (1975) về hòa tấu thính phòng Nam Bộ, Tô Ngọc Thanh (1982) về đặc tính phân loại nhạc cụ, KPlă - Ylăng (1980) và Nguyễn Hữu Thu (1987) về nhạc cụ Tây Nguyên.
- Hoàng Đạm (2003), Hòa tấu biến hóa lòng bản âm nhạc cổ truyền người Việt, phân tích kỹ thuật biến hóa lòng bản và chỉ ra các dạng thức hòa tấu không dùng hoặc hạn chế dùng biến hóa lòng bản.
- Trần Quý (2004), Những vấn đề phối khí cho dàn nhạc dân tộc đương đại, phân tích nguyên tắc tổ chức biên chế theo bộ, bè và vận dụng kỹ thuật hòa âm, phức điệu châu Âu trên dàn nhạc dân tộc.
- Lê Văn Toàn (2006), Âm nhạc Việt Nam tác giả - tác phẩm (tập II), phân tích cấu trúc ba phần, biến tấu và cách kết hợp nhạc cụ phương Tây trong các tác phẩm của Hoàng Đạm, Lê Yên, Huy Thục.
- Thế Bảo (2011), Nghĩ về nhạc luật cổ truyền Việt Nam, khảo sát tác động của luật nhạc bình quân phương Tây đối với âm nhạc Việt Nam và thảo luận về biên chế phối âm cho dàn nhạc dân tộc.
- Các bài báo của Nguyễn Thị Minh Châu (2008) về khái niệm nhạc truyền thống mới có tiêu đề và Trần Quý (2009) về ba giai đoạn phát triển tác phẩm khí nhạc dân tộc (1958-1980, 1980-1989, 1989 đến nay).
Về tài liệu quốc tế: Luận án tham khảo các công trình của Trần Văn Khê (1967, 1995, cùng mục từ trong The New Grove Dictionary of Music and Musicians) và Trần Quang Hải về ngẫu hứng và biến tấu trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Tác giả nhận định các nghiên cứu quốc tế này chủ yếu tập trung vào âm nhạc cổ truyền, chưa đề cập đến mảng tác phẩm mới viết cho nhạc cụ dân tộc.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Các tài liệu đã xuất bản chủ yếu dừng lại ở việc khái quát lịch sử, phân tích lẻ tẻ một số tác giả hoặc đi sâu vào nhạc cụ học thuần túy. Chưa có công trình nào khảo sát chuyên biệt, có tính hệ thống trên toàn bộ 52 tác phẩm trong 5 tập Hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại (2002) nhằm làm rõ một cách định lượng và định tính các cấp độ ảnh hưởng từ phương Tây về thể loại, hình thức, hòa âm, phức điệu và thủ pháp phối khí.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý thuyết, luận án sử dụng hệ thống khái niệm chuẩn mực của âm nhạc học và lý thuyết âm nhạc phương Tây kết hợp với lý luận âm nhạc dân tộc Việt Nam. Luận án đưa ra các định nghĩa thao tác hóa đối với các thuật ngữ then chốt:
- Ảnh hưởng: Sự tiếp thu có sáng tạo, chọn lọc các yếu tố âm nhạc phương Tây thông qua phương tiện diễn tả, thể loại, hình thức và phối khí.
- Điệu thức: Hệ thống mối tương quan giữa các âm ổn định và không ổn định.
- Độc tấu: Tác phẩm viết cho một nhạc cụ trình diễn độc lập hoặc kết hợp cùng nhạc cụ khác hay dàn nhạc đệm.
- Đương đại: Các sáng tác mới viết cho nhạc cụ dân tộc tính từ sau khi Trường Âm nhạc Việt Nam được thành lập năm 1956.
- Hình thức: Cấu trúc quá trình chứa đựng các phần, các chủ đề của tác phẩm theo hệ thống hình thức âm nhạc phương Tây.
- Hòa tấu: Các nhạc cụ tham gia cùng diễn tấu một bản nhạc.
- Tác phẩm mới viết cho nhạc cụ dân tộc: Những sáng tác có tác giả xác định, có văn bản ghi âm bằng hệ thống nốt nhạc trên khuông năm dòng kẻ phương Tây, xuất hiện từ sau năm 1956.
- Thể loại: Các loại hình tác phẩm liên quan đến phạm vi phương tiện diễn tả âm nhạc theo khái niệm của phương Tây.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp các hướng tiếp cận định tính mang tính đặc trưng của chuyên ngành Âm nhạc học:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Nghiên cứu tư liệu, âm thanh, tổng phổ đã có: Khảo sát hệ thống văn bản, nghe các bản ghi âm và giải mã tổng phổ các tác phẩm đã xuất bản.
- Phương pháp phân tích, diễn giải: Phân tích cấu trúc khúc thức, điệu thức, tuyến giai điệu, tổ chức bè, hợp âm và thủ pháp phối khí trong các tổng phổ để xác định ý đồ nghệ thuật của tác giả.
- Phương pháp so sánh đối chiếu, nghị luận, tổng hợp quy nạp: Đối chiếu các phương tiện diễn đạt trong tác phẩm viết cho nhạc cụ dân tộc với quy tắc kinh điển của âm nhạc phương Tây, từ đó tổng hợp quy nạp thành các đặc điểm tiếp biến.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Thực hiện điều tra, phỏng vấn các nhạc sĩ sáng tác, nhà nghiên cứu, giảng viên, nhạc công và thính giả nhằm thu thập nhận định thực tế về hiệu quả diễn tấu và tiếp nhận.
Nguồn ngữ liệu chính của luận án là 52 tác phẩm của 28 tác giả được in trong 5 tập Hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại (Viện Âm nhạc, 2002), bao gồm bản phổ đầy đủ, phân phổ và các bản thu âm biểu diễn thực tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và khái quát quá trình hình thành các tác phẩm mới viết cho nhạc cụ dân tộc
Chương 1 tái hiện tiến trình lịch sử ra đời và phát triển của các sáng tác mới cho nhạc cụ dân tộc từ năm 1956 đến đầu thế kỷ XXI, phân tích diện mạo đội ngũ sáng tác và phân loại tác phẩm.
Tiến trình hình thành được phân thành các giai đoạn lịch sử gắn liền với bối cảnh đất nước:
- Giai đoạn 1954-1975: Phong trào "Khai thác vốn cổ" tạo động lực ban đầu với sự khởi xướng của Tô Vũ và Tạ Phước. Tác phẩm hòa tấu Nông thôn đổi mới (1958) ra đời đánh dấu sự mở đầu cho khuynh hướng sáng tác có tổ chức bè lớp. Năm 1962, Dàn nhạc Dân tộc của Bộ Văn hóa (còn gọi là "Dàn nhạc giao hưởng dân tộc") do Lý Trọng Hưng phụ trách được thành lập. Giai đoạn chiến tranh phá hoại miền Bắc (từ 1964), trường sơ tán về Hà Bắc, các tác phẩm tiếp tục ra đời phục vụ kháng chiến và kiến thiết như Vì miền Nam (Huy Thục, 1964), Dòng kênh trong (Hoàng Đạm, 1963), tổ khúc Ông Gióng (Nguyễn Xuân Khoát, 1965), Tiếng gọi mùa xuân (Đinh Thìn - Trần Quý, 1972).
- Giai đoạn sau 1975 đến năm 1989: Đất nước thống nhất, lực lượng sáng tác được đào tạo chính quy trong và ngoài nước gia tăng, xuất hiện các tác phẩm quy mô lớn, thể loại concerto cho nhạc cụ dân tộc với dàn nhạc giao hưởng (Quê tôi giải phóng của Quang Hải, Biển quê hương của Trần Quý).
- Giai đoạn từ năm 1989 đến đầu những năm 2000: Bối cảnh chuyển đổi xã hội sau biến động quốc tế, các sáng tác tiếp tục khai thác sâu chất liệu Tây Nguyên (Âm vang cao nguyên của Doãn Tiến, Khát vọng Ba-dan của Nguyễn Cường) và tiến tới các thể nghiệm kết hợp nhạc cụ dân tộc với piano và hình thức nghệ thuật đương đại.
Luận án chỉ ra hai cấp độ của tác phẩm độc tấu:
- Cấp độ 1: Tác phẩm chuyển soạn từ dân ca, ca khúc hoặc bản cổ (ví dụ: Lý hoài nam, Trống cơm, Mưa rơi, Suối đàn T'rưng), phần đệm ban đầu do nghệ sĩ tự ngẫu hứng trên đàn tam thập lục, sau đó mới hình thành các bản chép tay đơn giản.
- Cấp độ 2: Tác phẩm sáng tác mới hoàn toàn dựa trên chất liệu, mô-típ hoặc tiết tấu âm nhạc dân gian, có phần đệm dàn nhạc viết sẵn mang tính bài bản chuyên nghiệp (như các tác phẩm của Huy Thục, Hoàng Đạm, Xuân Khải, Đỗ Hồng Quân).
Khảo sát 52 tác phẩm trong 5 tập Hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại, luận án thống kê có 50 tác phẩm có tiêu đề cụ thể. Các tác phẩm được phân thành 4 nhóm đề tài chính như tổng hợp ở Bảng 1:
| Nhóm đề tài |
Đề tài cụ thể |
Số lượng tác phẩm |
Tỉ lệ (%) |
| Cảnh đẹp thiên nhiên (28 tác phẩm, 56%) |
Mùa xuân |
7 |
13,5 |
|
Phong cảnh |
8 |
15,4 |
|
Nước |
4 |
7,7 |
|
Cảnh đẹp thiên nhiên Tây Nguyên |
5 |
9,6 |
|
Cảm xúc con người trước vẻ đẹp thiên nhiên |
4 |
7,7 |
| Xây dựng và bảo vệ đất nước (13 tác phẩm, 26%) |
Tâm trạng con người trong cuộc đấu tranh XDĐN |
7 |
13,5 |
|
Niềm tin về Đảng và Bác Hồ |
3 |
5,8 |
|
Niềm tự hào dân tộc |
3 |
5,8 |
| Lễ hội (7 tác phẩm, 14%) |
Lễ hội truyền thống |
5 |
9,6 |
|
Hội nghị |
2 |
3,8 |
| Truyền thuyết và truyện cổ tích (2 tác phẩm, 4%) |
Truyền thuyết và truyện cổ tích |
2 |
3,8 |
| Không có tiêu đề |
Không có tiêu đề |
2 |
3,8 |
Về việc ứng dụng hệ thống ký âm và thuật ngữ âm nhạc phương Tây, tác giả tổng hợp số liệu thực tế qua Bảng 2:
| STT |
Sử dụng thuật ngữ, ký hiệu |
Số lượng tác phẩm |
Tỉ lệ (%) |
| 1 |
Phương Tây |
35 |
67,3 |
| 2 |
Tiếng Việt |
4 |
7,7 |
| 3 |
Kết hợp (Phương Tây và Tiếng Việt) |
13 |
25,0 |
Bảng số liệu cho thấy 92,3% tác phẩm có sử dụng thuật ngữ, ký hiệu phương Tây (độc lập hoặc kết hợp). Ngay cả 4 tác phẩm dùng chỉ dẫn tiếng Việt vẫn sử dụng ký hiệu kỹ thuật và quy tắc ký âm năm dòng kẻ châu Âu. Luận án phân tích cụ thể các ví dụ thực tế:
- Ký âm hóa biểu: Sử dụng 3 dấu giáng (Vùng cao của Ngô Sĩ Hiển, Ngựa ô mùa xuân của Trần Luận, Không có gì quý hơn độc lập tự do của Nguyễn Đình Phúc) hoặc 4 dấu thăng (Tây Nguyên của Trần Quý). Dấu hóa bất thường được dùng để tô điểm giai điệu và tạo sức hút chuyển điệu (Hội mùa của Phúc Linh, Hội mừng công của Hoàng Đạm).
- Thuật ngữ tốc độ: Xuất hiện phổ biến các thuật ngữ Allegro, Adagio vigoroso, Andante, Moderato, Ad libitum, Maestoso festivo...
- Ký hiệu sắc thái: Chỉ dẫn cường độ từ rất nhỏ đến rất lớn (p, f, ff, fff, crescendo, diminuendo) như trong Vì miền Nam (Huy Thục), Hội mừng công (Hoàng Đạm), Rhapsody số 2 (Nguyễn Văn Thương).
- Kỹ thuật diễn tấu: Vận dụng ký hiệu Legato, Staccato, Pizzicato, Tremolo, Glissando, cùng lối rải hợp âm (Arpeggio) trên đàn tam thập lục (Mãi mãi một mùa xuân của Xuân Khải) và đàn tranh (Thành phố Hồ Chí Minh của Chu Minh - Trần Quý).
Chương 2: Ảnh hưởng thể loại, hình thức âm nhạc phương Tây trong các tác phẩm viết cho nhạc cụ dân tộc
Chương này tập trung phân tích sự tiếp biến ở cấp độ cấu trúc vĩ mô của tác phẩm:
- Về thể loại: Các nhạc sĩ đã vận dụng các thể loại khí nhạc châu Âu vào sáng tác cho nhạc cụ truyền thống. Thể loại concerto và concertino xuất hiện với vai trò phô diễn kỹ thuật của nhạc cụ dân tộc độc tấu trên nền dàn nhạc (Tiếng gọi mùa xuân của Đinh Thìn - Trần Quý, Biển quê hương của Trần Quý, Đất và hoa, Quê tôi giải phóng của Quang Hải, Khúc tâm tình quê hương của Xuân Tứ). Thể loại rhapsody (Rhapsody số 2 của Nguyễn Văn Thương), overture (Overture Ngày hội của Trần Quý), tổ khúc/suite (Ông Gióng của Nguyễn Xuân Khoát gồm 6 chương có tiêu đề, Vùng cao của Ngô Sĩ Hiển gồm 4 chương) cũng được tiếp thu để xây dựng các bố cục âm nhạc có kịch tính và quy mô mở rộng.
- Về hình thức âm nhạc: Thay thế lối cấu trúc mở, ngẫu hứng lòng bản truyền thống bằng các khuôn mẫu khúc thức chặt chẽ của phương Tây:
- Hình thức hai đoạn và ba đoạn (đơn và phức): Cấu trúc ba đoạn A-B-A' được dùng phổ biến để tạo sự cân bằng và tương phản chủ đề (Dòng kênh trong, Hội mừng công của Hoàng Đạm).
- Hình thức biến tấu: Xây dựng chủ đề rồi phát triển qua các biến khúc có quy mô khác nhau (Hội nghị Diên Hồng của Hoàng Đạm).
- Hình thức rondo: Ứng dụng nguyên tắc nhắc lại chủ đề xen kẽ các chen (Hân hoan của Nguyễn Cường).
- Hình thức sonata: Xuất hiện trong các chương của tác phẩm hòa tấu lớn và concerto (Khát vọng Ba-dan của Nguyễn Cường, Biển quê hương của Trần Quý, Quê tôi giải phóng của Quang Hải).
- Bổ sung các cấu trúc chức năng phương Tây như đoạn mở đầu, phần cadenza dành riêng cho nhạc cụ độc tấu phô diễn ngón đàn kỹ thuật và phần kết (coda) nâng cao kịch tính. Luận án khảo sát và phân loại chi tiết hình thức của 71 chương nhạc thuộc 52 tác phẩm trong tuyển tập.
Chương 3: Ảnh hưởng những phương tiện biểu hiện của âm nhạc phương Tây trong các tác phẩm viết cho nhạc cụ dân tộc
Chương 3 đi sâu vào các phương tiện ngôn ngữ âm nhạc cụ thể:
- Điệu thức và giai điệu:
- Vận dụng hệ thống điệu thức hai cực tính trưởng (Dur) - thứ (Moll) bảy âm châu Âu.
- Kết hợp nhuần nhuyễn thang âm năm âm (ngũ cung) truyền thống Việt Nam với điệu thức bảy âm phương Tây, tạo nên ngôn ngữ giai điệu vừa giữ được bản sắc dân tộc vừa có khả năng mở rộng tư duy khí nhạc.
- Sử dụng các bước tiến hành nửa âm (chromatic) nhằm tạo điểm nhấn dẫn hướng, sức hút chuyển dịch trung tâm âm thanh và gia tăng màu sắc kịch tính.
- Hòa âm:
- Ứng dụng hòa âm chồng quãng ba theo nguyên lý cổ điển phương Tây, bổ sung thêm các quãng nghịch, quãng hai và chồng âm ngũ cung.
- Thiết lập tư duy hòa âm công năng (T - S - D) làm nền tảng nâng đỡ giai điệu nhạc cụ dân tộc.
- Sử dụng các vòng hòa âm kết rõ ràng ở ranh giới các vế, câu, đoạn.
- Vận dụng thủ pháp ly điệu và chuyển điệu sang các vùng điệu tính mới để mở rộng cấu trúc tác phẩm.
- Khai thác kỹ thuật âm nền và âm trì tục (pedal/ostinato) tạo không gian ổn định cho giai điệu phô diễn.
- Phức điệu:
- Sử dụng đối vị tương phản giữa các bè giai điệu có tính độc lập cao.
- Áp dụng phức điệu mô phỏng (nhắc lại nét nhạc ở bè khác tại các khoảng cách cao độ và thời gian khác nhau) để phát triển và liên kết các chất liệu chủ đề.
- Biên chế dàn nhạc và thủ pháp phối khí:
- Tổ chức biên chế dàn nhạc dân tộc phỏng theo nguyên tắc phân nhóm, phân bè của dàn nhạc giao hưởng phương Tây (chia thành các nhóm nhạc cụ gảy, kéo vĩ, hơi và gõ tương ứng với các nhóm dây, gỗ, đồng, gõ).
- Tồn tại ba dạng biên chế chính: Dàn nhạc thuần túy nhạc cụ dân tộc; Dàn nhạc dân tộc tăng cường một số nhạc cụ phương Tây ở âm vực trầm và trung (flute, oboe, clarinette, cor anglais, fagotte, violon, viola, cello, contrabasso); và Nhạc cụ dân tộc độc tấu cùng toàn bộ dàn nhạc giao hưởng phương Tây.
- Thủ pháp phối khí phương Tây giúp xử lý cân bằng âm sắc, khắc phục hạn chế về âm vực và độ vang của nhạc cụ truyền thống, tạo độ dày âm vang và tính tương phản giao hưởng.
Kết quả và những đóng góp mới
Theo công bố tự thân của tác giả trong văn bản, luận án đạt được các kết quả và đóng góp cụ thể:
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên chỉ ra và phân tích cụ thể những ảnh hưởng từ âm nhạc phương Tây trong bút pháp sáng tác cho nhạc cụ dân tộc qua toàn bộ 52 tác phẩm thuộc 5 tập Hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại (Viện Âm nhạc, 2002).
- Xác định rõ nét cơ chế dung hợp giữa việc tiếp thu các yếu tố âm nhạc phương Tây (thể loại, hình thức, hòa âm, phức điệu, phối khí) với việc bảo tồn, phát huy các chất liệu truyền thống (thang âm năm âm, làn điệu dân ca, kỹ thuật ngón bấm cổ truyền).
- Khái quát hóa tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của mảng tác phẩm mới viết cho nhạc cụ dân tộc từ mốc thành lập Trường Âm nhạc Việt Nam (1956) đến năm 2002.
- Đưa ra nhận xét thực chứng về sự thiếu nhất quán trong cách ký âm, dùng thuật ngữ và chỉ dẫn kỹ thuật ở các bản phổ hiện hành; qua đó đề xuất yêu cầu chuẩn hóa, quốc tế hóa hệ thống văn bản tổng phổ để phục vụ giao lưu và trình diễn quốc tế.
- Cung cấp hệ thống dữ liệu thư mục, danh mục tác phẩm xếp theo trình tự thời gian và hệ thống bảng biểu phân loại cấu trúc, biên chế làm tài liệu học thuật cho công tác nghiên cứu và đào tạo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định rõ giới hạn nghiên cứu:
- Ngữ liệu khảo sát chỉ tập trung vào 52 tác phẩm đã được tuyển chọn và in ấn chính thức trong 5 tập Hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại do Viện Âm nhạc xuất bản năm 2002.
- Luận án không bao quát các tác phẩm mới ra đời sau thời điểm xuất bản tuyển tập trên, cũng như các tác phẩm chưa được xuất bản hoặc lưu hành dưới dạng bản chép tay của các nhà hát, đoàn nghệ thuật.
- Luận án chủ động không nghiên cứu các tác phẩm viết cho nhạc cụ dân tộc của các nhạc sĩ Việt Nam đang định cư và hoạt động âm nhạc ở nước ngoài.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Luận án mở ra hướng nghiên cứu tiếp tục khảo sát, bổ sung và phân tích các sáng tác mới cho nhạc cụ dân tộc từ sau năm 2002 đến nay.
- Nghiên cứu mở rộng sang mảng tác phẩm của các nhạc sĩ Việt kiều nhằm có bức tranh đối sánh toàn cảnh về sự giao thoa văn hóa âm nhạc phương Tây trong sáng tác cho nhạc khí cổ truyền Việt Nam trên phạm vi quốc tế.
Giá trị tham khảo
Nội dung luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng trong ngành âm nhạc:
- Giảng viên và nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Âm nhạc học: Cung cấp cơ sở lý luận, hệ thống phân loại và phương pháp phân tích tác phẩm khí nhạc dân tộc đa bè; là nguồn tư liệu đối chiếu lịch sử phát triển âm nhạc mới Việt Nam thế kỷ XX.
- Nhạc sĩ sáng tác và người chỉ huy dàn nhạc: Tham khảo các kinh nghiệm thực tế về xử lý điệu thức hỗn hợp, tổ chức bè hòa thanh, đối vị và phối khí kết hợp giữa nhạc cụ phương Tây với nhạc khí truyền thống.
- Giảng viên và sinh viên chuyên ngành biểu diễn nhạc cụ truyền thống: Hiểu rõ xuất xứ phong cách, bối cảnh lịch sử và cấu trúc tác phẩm để thể hiện chính xác các yêu cầu kỹ thuật, sắc thái và nhịp độ ghi trong bản phổ.
- Các cơ quan nghiên cứu và quản lý văn hóa: Làm cơ sở định hướng cho công tác biên tập, chuẩn hóa hệ thống ký âm và ấn hành các tổng phổ khí nhạc dân tộc phục vụ hội nhập quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Các tác phẩm trong 5 tập Hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại tập trung vào những nhóm đề tài nào và nhóm nào chiếm tỷ lệ lớn nhất?
Theo số liệu thống kê của luận án trên 50 tác phẩm có tiêu đề, các tác phẩm được phân thành 4 nhóm đề tài: Cảnh đẹp thiên nhiên chiếm 28 tác phẩm (56%); Xây dựng và bảo vệ đất nước chiếm 13 tác phẩm (26%); Lễ hội chiếm 7 tác phẩm (14%); và Truyền thuyết, truyện cổ tích chiếm 2 tác phẩm (4%). Như vậy, nhóm đề tài Cảnh đẹp thiên nhiên chiếm số lượng và tỷ lệ cao nhất.
2. Mức độ sử dụng thuật ngữ và ký hiệu âm nhạc phương Tây trong 52 tác phẩm khảo sát được thể hiện ra sao?
Thống kê tại Bảng 2 của luận án chỉ ra: có 35 tác phẩm sử dụng hoàn toàn thuật ngữ, ký hiệu phương Tây (chiếm 67,3%); 13 tác phẩm sử dụng kết hợp cả thuật ngữ phương Tây lẫn chỉ dẫn tiếng Việt (chiếm 25,0%); và chỉ có 4 tác phẩm sử dụng hoàn toàn chỉ dẫn bằng tiếng Việt (chiếm 7,7%). Tuy nhiên, cả 4 tác phẩm dùng tiếng Việt vẫn sử dụng các ký hiệu kỹ thuật và quy tắc ký âm năm dòng kẻ phương Tây.
3. Luận án phân chia các tác phẩm độc tấu nhạc cụ dân tộc thành mấy cấp độ?
Luận án phân chia tác phẩm độc tấu thành 2 cấp độ: Cấp độ thứ nhất gồm các bài chuyển soạn từ dân ca, ca khúc hoặc bản cổ quen thuộc (phần đệm ngẫu hứng hoặc chép tay đơn giản); Cấp độ thứ hai gồm các tác phẩm sáng tác mới dựa trên chất liệu âm nhạc dân gian cổ truyền, có phần đệm dàn nhạc mang tính chuyên nghiệp và được xuất bản thành văn bản.
4. Những nhạc khí phương Tây nào thường được đưa vào dàn nhạc dân tộc đương đại và với mục đích gì?
Các nhạc khí phương Tây thường được bổ sung gồm: sáo flute, kèn oboe, clarinette, cor anglais, fagotte cho bộ hơi; violon, viola, cello, contrabasso cho bộ dây kéo; cùng một số nhạc cụ bộ đồng và bộ gõ giao hưởng. Mục đích chính là hỗ trợ, mở rộng âm vực trầm - trung, tăng cường độ vang và tạo thêm màu sắc âm thanh mới cho dàn nhạc dân tộc.
5. Vì sao tác phẩm Nông thôn đổi mới (1958) của Tô Vũ và Tạ Phước được đánh giá là một mốc quan trọng trong lịch sử khí nhạc dân tộc mới?
Tác phẩm Nông thôn đổi mới trình diễn lần đầu tiên năm 1958 tại Hà Nội được coi là tác phẩm mở đầu cho thể loại hòa tấu lớn viết cho nhạc cụ dân tộc, đánh dấu việc chuyển đổi từ lối hòa tấu ngẫu hứng cổ truyền sang tác phẩm có tác giả, có phân bè lớp và ký âm bài bản theo quy tắc âm nhạc phương Tây.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Anh Việt đã khảo cứu toàn diện hiện tượng tiếp nhận và biến đổi các yếu tố âm nhạc phương Tây trong 52 tác phẩm thuộc 5 tập Hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại. Bằng các phương pháp phân tích tổng phổ và đối sánh lịch sử học thuật, công trình đã làm sáng tỏ phương thức ứng dụng các hình thức kinh điển, hòa âm công năng, kỹ thuật phức điệu và nguyên lý phối khí giao hưởng trên nền tảng chất liệu âm nhạc dân tộc Việt Nam. Kết quả nghiên cứu khẳng định sự giao thoa này là một xu hướng tất yếu giúp nâng cao tính chuyên nghiệp của nền khí nhạc truyền thống, đồng thời chỉ ra nhu cầu cấp thiết về việc chuẩn hóa ký âm và thuật ngữ cho các tác phẩm khí nhạc dân tộc đương đại.