Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế đã thúc đẩy làn sóng dịch chuyển lao động nội địa tại Việt Nam diễn ra mạnh mẽ. Đến năm 2016, tổng số lao động phi chính thức trên toàn quốc đã vượt mốc 18,01 triệu người, tăng 2,8% so với năm 2015, trong đó phụ nữ chiếm hơn 7,8 triệu người, tương đương 43,56% lực lượng. Dự báo đến năm 2019, số lượng người lao động di cư giữa các tỉnh đạt khoảng 8 triệu người, chiếm 9,4% tổng dân số. Tuy nhiên, có tới 98% lao động phi chính thức không được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và mức thu nhập bình quân chỉ bằng 2/3 so với khu vực chính thức.

Vấn đề cốt lõi được đặt ra là nhóm lao động nữ di cư phi chính thức đang phải gánh chịu rủi ro kép: vừa di cư xa quê hương, vừa làm việc bấp bênh không có hợp đồng pháp lý, vừa phải thực hiện thiên chức làm mẹ nhưng lại đứng ngoài mạng lưới an sinh cơ bản. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về an sinh xã hội dưới góc độ luật học, khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng quy định pháp luật cùng thực tiễn thi hành đối với lao động nữ di cư phi chính thức tại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2019.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống pháp luật an sinh xã hội Việt Nam điều chỉnh các luồng di cư nội địa, đặc biệt tại các đô thị lớn và vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp căn cứ lập pháp nhằm nâng cao tỷ lệ bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện từ mức 0,5% hiện tại, hạn chế tình trạng hơn 70% lao động nữ rút bảo hiểm xã hội một lần, qua đó bảo đảm quyền con người và thúc đẩy công bằng xã hội bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quyền con người theo Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 và sáng kiến Sàn an sinh xã hội năm 2009 của Liên hợp quốc, khẳng định quyền được bảo đảm an sinh xã hội là quyền cơ bản của mọi công dân khi gặp biến cố ốm đau, thai sản, tàn tật hay già yếu. Nghiên cứu cũng căn cứ vào hệ thống chuẩn mực quốc tế của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), tiêu biểu là Công ước số 102 năm 1952 về quy phạm tối thiểu an sinh xã hội với 9 nhánh trợ cấp then chốt.

Mô hình nghiên cứu phân tích hệ thống an sinh xã hội Việt Nam dựa trên cấu trúc 4 trụ cột cơ bản: phòng ngừa rủi ro (việc làm, đào tạo nghề, giảm nghèo), giảm thiểu rủi ro (bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội), khắc phục rủi ro (trợ giúp xã hội) và các dịch vụ xã hội cơ bản (nhà ở, giáo dục, nước sạch, thông tin truyền thông).

Khung phân tích làm rõ 4 khái niệm trung tâm bao gồm: lao động phi chính thức, việc làm phi chính thức (việc làm không có hợp đồng lao động từ đủ 1 tháng trở lên và không có bảo hiểm xã hội bắt buộc), lao động nữ di cư phi chính thức và an sinh xã hội cho lao động nữ di cư phi chính thức. Nghiên cứu quán triệt 5 nguyên tắc pháp lý cốt lõi: mọi thành viên có quyền thụ hưởng; Nhà nước thống nhất quản lý; kết hợp hài hòa chính sách kinh tế với chính sách xã hội; kết hợp nguyên tắc hưởng thụ theo đóng góp với nguyên tắc lấy số đông bù số ít; và đa dạng hóa, xã hội hóa nguồn lực an sinh.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập toàn diện từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp năm 2013, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật Bảo hiểm y tế, Bộ luật Lao động) kết hợp dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ cuộc Điều tra di cư nội địa quốc gia năm 2015 của Tổng cục Thống kê với cỡ mẫu 17,6 triệu người di cư, khảo sát lao động phi chính thức năm 2017 của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, cùng các khảo sát thực địa của ActionAid và Oxfam tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu sử dụng kỹ thuật chọn mẫu chỉ tiêu kết hợp phân tầng thứ cấp, tập trung vào các ngành nghề chiếm tỷ trọng di cư cao nhất như dệt may, da giày, xây dựng, dịch vụ ăn uống và giúp việc gia đình tại các trung tâm công nghiệp lớn. Timeline nghiên cứu bao quát số liệu và quá trình hoàn thiện chính sách trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2019.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp phân tích logic quy phạm và tổng hợp số liệu thống kê nhằm chỉ ra khoảng cách giữa quy định trên văn bản pháp luật và thực tế áp dụng, bảo đảm tính xác thực, khách quan và toàn diện trong việc đánh giá các rào cản an sinh của lao động nữ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ bao phủ của bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với lao động phi chính thức ở mức rất thấp. Đến tháng 9 năm 2017, toàn quốc chỉ có hơn 190.000 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, tương đương khoảng 0,5% tổng số lao động trong khu vực này. Đáng chú ý, có tới 70% người tham gia là những người đã từng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nay đóng tiếp để đủ điều kiện nhận lương hưu, trong khi số lượng lao động phi chính thức tham gia mới hoàn toàn không đáng kể.

Thứ hai, tình trạng vi phạm pháp luật lao động và trốn đóng bảo hiểm của người sử dụng lao động diễn ra phổ biến. Trong tổng số hơn 400.000 doanh nghiệp đang hoạt động, chỉ có 201.600 doanh nghiệp thực hiện đóng bảo hiểm xã hội, đồng nghĩa với khoảng 50% doanh nghiệp trốn tránh trách nhiệm. Khảo sát thực tế chỉ ra 100% lao động di cư ngành xây dựng và 50% lao động di cư ngành may mặc chỉ giao kết hợp đồng miệng, khiến họ bị loại trừ hoàn toàn khỏi diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Thứ ba, thiết kế chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện bộc lộ nhiều bất cập giới nghiêm trọng. Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chỉ được hưởng 2 chế độ là hưu trí và tử tuất, hoàn toàn thiếu vắng các chế độ thiết yếu đối với phụ nữ như thai sản, ốm đau và tai nạn lao động. Yêu cầu thời gian đóng tối thiểu 20 năm để hưởng lương hưu tạo rào cản quá lớn đối với phụ nữ di cư có việc làm bấp bênh, dẫn đến việc hơn 70% lao động nữ di cư tại các tỉnh phía Nam chọn nhận bảo hiểm xã hội một lần sau 10 đến 15 năm làm việc.

Thứ tư, bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản và y tế tại nơi đến. Người lao động di cư phải chịu chi phí sinh hoạt điện, nước cao hơn từ 1,5 đến 2 lần so với người dân địa phương do chủ nhà trọ áp giá kinh doanh. Bên cạnh đó, có gần 29% phụ nữ di cư lần đầu ở độ tuổi rất trẻ từ 15 đến 19 tuổi nhưng thiếu hiểu biết về quyền lợi bảo hiểm y tế hộ gia đình, dẫn đến việc gặp khó khăn lớn khi tiếp cận cơ sở khám chữa bệnh tại các thành phố lớn.

+-----------------------------------------------------------------------------------+
|               SO SÁNH THỰC TRẠNG BẢO HIỂM VÀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG                    |
+------------------------------------+----------------------------------------------+
| Chỉ số an sinh                     | Tỷ lệ thực tế ghi nhận                       |
+------------------------------------+----------------------------------------------+
| Lao động phi chính thức có BHXH    | 2% (98% không có bảo hiểm xã hội)            |
| Tham gia BHXH tự nguyện            | 0,5% trên tổng số lao động phi chính thức    |
| Tỷ lệ trốn đóng BHXH doanh nghiệp  | Khoảng 50% tổng số 400.000 doanh nghiệp      |
| Hợp đồng miệng ngành xây dựng      | 100% người lao động di cư                    |
| Hợp đồng miệng ngành may mặc       | 50% người lao động di cư                     |
| Nữ di cư rút BHXH một lần phía Nam | Trên 70% sau khi nghỉ việc                   |
+------------------------------------+----------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Các phát hiện phản ánh rõ sự thiếu đồng bộ giữa các quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 với thực tiễn thị trường lao động. Nguyên nhân sâu xa xuất phát từ việc quy định căn cứ tham gia bảo hiểm bắt buộc dựa trên hợp đồng lao động từ đủ 1 tháng trở lên, tạo kẽ hở cho doanh nghiệp lách luật bằng hợp đồng miệng hoặc thỏa thuận ngầm. Mặc dù từ năm 2018 Chính phủ đã ban hành chính sách hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện với mức 30% cho hộ nghèo, 25% cho hộ cận nghèo và 10% cho đối tượng khác dựa trên chuẩn nghèo nông thôn, nhưng mức hỗ trợ này vẫn chưa đủ bù đắp sự thiếu hụt các quyền lợi thai sản ngắn hạn.

Dữ liệu nghiên cứu khi được tổng hợp qua bảng phân tích ma trận rủi ro cho thấy rõ sự chênh lệch sâu sắc: khu vực kinh tế Đông Nam Bộ thu hút 99,7% dòng lao động xuất cư từ Đồng bằng sông Cửu Long và 74% từ Bắc Trung Bộ nhờ tỷ suất nhập cư lên tới 127%, nhưng hạ tầng an sinh xã hội, nhà ở công nhân và trường mầm non công lập tại đây chỉ đáp ứng chưa đầy 30% nhu cầu thực tế. Kết quả này tương đồng với các cảnh báo của Tổ chức Lao động Quốc tế về khoảng trống an sinh ở các nền kinh tế đang chuyển đổi, đồng thời khẳng định tính cấp thiết phải tái cấu trúc chính sách theo hướng bảo vệ quyền an sinh phổ quát không phân biệt hộ khẩu hay loại hình hợp đồng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Quốc hội và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần khẩn trương sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội theo hướng bổ sung gói chế độ thai sản và ốm đau linh hoạt vào loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện. Đồng thời, cần rút ngắn thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm và tiến tới 10 năm trong giai đoạn 2020 - 2025, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội lên mức 10% vào năm 2025.

Thứ hai, Chính phủ và Bộ Tài chính cần nâng mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước cho lao động nữ phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm y tế hộ gia đình. Cụ thể, cần nâng mức hỗ trợ đóng từ 30% lên 50% đối với lao động thuộc hộ nghèo, từ 25% lên 40% đối với hộ cận nghèo và hỗ trợ tối thiểu 20% đối với các đối tượng lao động nữ di cư còn lại, triển khai đồng bộ từ năm 2021 nhằm bao phủ cho hơn 1,5 triệu lao động nữ.

Thứ ba, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bảo hiểm Xã hội Việt Nam và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tăng cường thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, xử lý nghiêm tình trạng 50% doanh nghiệp trốn đóng, nợ đọng bảo hiểm. Cần thiết lập cơ chế giám sát điện tử minh bạch giúp người lao động tự tra cứu quá trình đóng nộp và áp dụng chế tài hình sự nghiêm khắc đối với các hành vi cố tình trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Thứ tư, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tại các vùng kinh tế trọng điểm như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai cần quy hoạch xây dựng hệ thống nhà ở xã hội cho thuê giá rẻ, trường mầm non công lập và trạm y tế lưu động gần các cụm công nghiệp. Mục tiêu đến năm 2030 đảm bảo 80% con em lao động nữ di cư được tiếp cận giáo dục mầm non công lập và được thụ hưởng biểu giá điện, nước sinh hoạt đúng quy định nhà nước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách, bao gồm Quốc hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn sâu sắc để sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội, xây dựng các gói bảo hiểm tự nguyện có trợ cấp thai sản và hoàn thiện sàn an sinh quốc gia.

Nhóm thứ hai là các giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Lao động, Xã hội học và Quản lý công. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp tiếp cận quyền con người trong an sinh xã hội, cung cấp khung phân tích pháp lý chuẩn mực và hệ thống số liệu di cư thực chứng.

Nhóm thứ ba là các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phát triển quốc tế và các hội đoàn xã hội như Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Oxfam và ActionAid. Tài liệu giúp các tổ chức xây dựng các chương trình can thiệp hỗ trợ sinh kế, bảo vệ quyền của lao động nữ yếu thế và vận động chính sách bình đẳng giới.

Nhóm thứ tư là người sử dụng lao động, hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ, cùng ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất. Luận văn giúp các đơn vị nắm vững khung pháp lý về an toàn lao động, hiểu rõ trách nhiệm xã hội và thiết lập chính sách phúc lợi thỏa đáng nhằm giữ chân lực lượng lao động nữ ổn định.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao lao động nữ di cư phi chính thức khó tiếp cận bảo hiểm xã hội bắt buộc?

Theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, bảo hiểm xã hội bắt buộc chỉ áp dụng cho người làm việc theo hợp đồng lao động từ đủ 1 tháng trở lên. Trong thực tế, có tới 100% lao động di cư ngành xây dựng và 50% ngành may mặc chỉ giao kết hợp đồng miệng hoặc làm công việc tự do, khiến họ bị người sử dụng lao động từ chối đóng bảo hiểm bắt buộc.

Mức hỗ trợ của Nhà nước đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện hiện nay ra sao?

Căn cứ Nghị định 134/2015/NĐ-CP áp dụng từ năm 2018, Nhà nước hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện theo tỷ lệ chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn: 30% đối với người thuộc hộ nghèo, 25% đối với người thuộc hộ cận nghèo và 10% đối với các đối tượng khác. Mức đóng hàng tháng bằng 22% mức thu nhập do người lao động lựa chọn.

Vì sao có hơn 70% lao động nữ di cư phía Nam chọn nhận bảo hiểm xã hội một lần?

Quy định thời gian đóng bảo hiểm tối thiểu 20 năm để hưởng lương hưu là quá dài đối với lao động nữ di cư, vốn thường bị giảm sút sức khỏe hoặc mất việc làm ở độ tuổi 35 đến 40. Khi chuyển đổi công việc hoặc trở về quê, do áp lực kinh tế trước mắt và thiếu chế độ thai sản trong bảo hiểm tự nguyện, họ buộc phải rút một lần.

Rào cản lớn nhất của lao động nữ di cư trong tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục là gì?

Rào cản lớn nhất là thủ tục đăng ký tạm trú và sự gắn kết dịch vụ công với sổ hộ khẩu. Người lao động di cư thường phải chi trả viện phí trái tuyến cao hơn do thẻ bảo hiểm y tế đăng ký tại quê nhà, đồng thời phải trả tiền điện nước sinh hoạt theo giá kinh doanh đắt hơn từ 1,5 đến 2 lần tại các khu nhà trọ.

Giải pháp nào được xem là đột phá để mở rộng an sinh cho lao động nữ phi chính thức?

Giải pháp đột phá là tích hợp chế độ thai sản và ốm đau ngắn hạn vào gói bảo hiểm xã hội tự nguyện, kết hợp giảm thời gian đóng hưởng lương hưu xuống 15 năm và nâng mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách lên 50% cho người nghèo, giúp tạo động lực kinh tế trực tiếp cho phụ nữ tham gia.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định vai trò trụ cột của hơn 7,8 triệu lao động nữ phi chính thức đối với nền kinh tế, đồng thời chỉ ra khoảng trống pháp lý lớn khi 98% đối tượng này chưa được bảo vệ bởi bảo hiểm xã hội.
  • Nghiên cứu làm rõ sự cấp thiết phải hoàn thiện cấu trúc 4 trụ cột an sinh xã hội dựa trên chuẩn mực quốc tế của Tổ chức Lao động Quốc tế và điều kiện thực tiễn Việt Nam.
  • Thực trạng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện chỉ đạt 0,5% và hơn 70% lao động nữ rút bảo hiểm một lần đòi hỏi phải thay đổi căn bản điều kiện đóng - hưởng và bổ sung quyền lợi thai sản.
  • Các giải pháp nâng mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách lên 50%, siết chặt thanh tra 50% doanh nghiệp trốn đóng và đầu tư hạ tầng dịch vụ công cần được triển khai quyết liệt theo lộ trình 2020 - 2025.
  • Đóng góp chính của công trình là cung cấp cơ sở khoa học và pháp lý toàn diện; bạn đọc và các nhà nghiên cứu hãy tham khảo toàn văn đề tài để cùng chung tay thúc đẩy một hệ thống an sinh xã hội bao trùm và nhân văn cho mọi lao động nữ di cư.