Chương 1. Một số vấn đề lý luận về an sinh xã hội cho lao động nữ di cƣ phi chính thức và sự điều chỉnh của pháp luật. Thực trạng pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cƣ phi chính thức và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nữ di cƣ phi chính thức tại Việt Nam.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI CHO LAO ĐỘNG NỮ DI CƢ PHI CHÍNH THỨC VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1. Khái quát chung về an sinh xã hội cho lao động nữ di cƣ phi chính thức 1. Khái niệm, đặc điểm của lao động nữ di cư phi chính thức Trong qúa trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, lao động di cƣ là một phần không thể tách rời của nền kinh tế ở Việt Nam. Thực tế cho thấy, lao động di cƣ đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế.
Lao động di cƣ chủ yếu là lao động từ nông thôn di cƣ ra thành thị và vào các khu công nghiệp, họ có vai trò rất quan trọng trong quá trình sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Tuy nhiên, đây cũng là lực lƣợng lao động dễ bị tổn thƣơng nhất và khó tiếp cận với các chính sách về an sinh xã hội, trong đó có chính sách về việc làm, y tế, giáo dục… Sau khi di cƣ, những ngƣời lao động tham gia vào nhiều việc làm thuộc lao động chính thức và cả phi chính thức. Để phân biệt khu vực kinh tế chính thức và khu vực kinh tế phi chính thức là dựa trên sự khác nhau giữa lao động đƣợc trả lƣơng, lao động tự làm, lao động có hợp đồng lao động hay không. Năm 1993, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Cơ quan Thống kê Liên hợp quốc (UNSD) đã đi đến thống nhất khái niệm về khu vực kinh tế phi chính thức và lao động phi chính thức.
Theo đó, khu vực kinh tế phi chính thức đƣợc hiểu một cách chung nhất, là tập hợp các đơn vị sản xuất ra sản phẩm vật chất và dịch vụ với mục tiêu chủ yếu nhằm tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho ngƣời lao động. Các đơn vị này thƣờng hoạt động với tổ chức quy mô nhỏ, quan hệ lao động chủ yếu dựa trên lao động không thƣờng xuyên, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan hệ họ hàng hoặc quan hệ cá nhân hơn là những quan hệ qua hợp đồng với những đảm bảo chính thức. Các đơn vị sản xuất của khu vực phi chính thức có những đặc điểm của cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, doanh nghiệp hộ gia đình. Tài sản cố định và những tài sản khác không thuộc về đơn vị sản xuất mà thuộc về chủ sở hữu đầu tƣ.
Các đơn vị này không thể đứng ra ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp khác theo đúng luật định và họ cũng không thể đứng ra tự trang trải nợ với tƣ cách của mình. Ngƣời chủ sở hữu phải tự cân đối thu chi, tự chịu rủi ro. Chi phí sản xuất không phân biệt với chi phí gia đình. Tƣơng tự, việc sử dụng hàng hoá có giá trị nhƣ nhà cửa hay xe cộ không phân biệt là dành cho kinh doanh hay mục đích tiêu dùng của gia đình.
Còn lao động phi chính thức, theo khung khái niệm của ILO, lao động phi chính thức phi nông nghiệp bao gồm các nhóm sau đây: (1) Lao động tự làm trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của chính họ thuộc khu vực kinh tế phi chính thức; (2) Ngƣời chủ làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của chính họ thuộc khu vực kinh tế phi chính thức; (3) Lao động gia đình, không kể họ làm việc trong đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc khu vực kinh tế chính thức hay khu vực kinh tế phi chính thức; (4) Xã viên của hợp tác xã thuộc khu vực kinh tế phi chính thức; (5) Lao động làm công ăn lƣơng với công việc phi chính thức trong các đơn vị sản xuất kinh doanh chính thức, lao động làm công ăn lƣơng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc khu vực kinh tế phi chính thức, hay lao động làm thuê công việc gia đình trong các hộ gia đình; và (6) Ngƣời tự làm tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm vật chất và dịch vụ dùng cho nhu cầu tự tiêu dùng của chính hộ gia đình họ. Nhƣ vậy, lao động phi chính thức và việc làm phi chính thức là hai khái niệm và phạm trù khác nhau. Nói đến lao động phi chính thức là nói đến con ngƣời – ngƣời lao động, còn nói đến việc làm phi chính thức là nói đến công việc. Lao động phi chính thức đƣợc xác định là lao động có việc làm phi 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính thức.
Mỗi lao động chỉ đƣợc xác định trên một công việc chính (hay gọi là việc làm chính). Nhƣ vậy, lao động phi chính thức có thể đƣợc tìm thấy trong cả khu vực phi chính thức và ngoài khu vực phi chính thức. Khu vực kinh tế phi chính thức đƣợc định nghĩa là khu vực hoạt động của tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh (SXKD) không có tƣ cách pháp nhân, sản xuất ít nhất một hoặc một vài sản phẩm và dịch vụ để bán hoặc trao đổi, không đăng kí kinh doanh (không có giấy phép kinh doanh). Ở Việt Nam, các cơ sở SXKD hoạt động trong khu vực này chủ yếu là hộ sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp và các tổ hợp tác.
Việc làm phi chính thức đƣợc định nghĩa là việc làm không có bảo hiểm xã hội (đặc biệt là bảo hiểm xã hội bắt buộc) và không có hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng trở lên (theo pháp luật Việt Nam), hầu hết các việc làm thuộc khu vực kinh tế phi chính thức đƣợc coi là việc làm phi chính thức. Lao động phi chính thức đƣợc định nghĩa là lao động có việc làm phi chính thức. Nhƣ vậy, Lao động phi di cƣ phi chính thức là những ngƣời lao động di cƣ từ vùng này sang vùng khác hoặc từ quốc gia này đến quốc gia khác làm việc trong khu vực kinh tế chính thức và cả khu vực kinh tế phi chính thức. Không có hợp đồng lao động.
Họ không đƣợc hƣởng các quyền lợi trong lao động nhƣ lao động chính thức. Trong đó có lao động nữ di cƣ phi chính thức. Trong phạm vi đề tài này tác giả chỉ đề cập đến ngƣời lao động nữ di cƣ từ vùng này sang vùng khác trong phạm vi biên giới một quốc gia. Lao động nữ di cƣ phi chính thức là lao động nữ di cƣ từng vùng này sang vùng khác làm việc trong khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức, họ không có hợp đồng lao động, cho nên những quyền lợi hợp pháp của họ không đƣợc bảo đảm, nhƣ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, hỗ trợ thất nghiệp và các chính sách an sinh xã hội khác tại nơi họ đến làm việc.
Họ là nhóm lao động dễ bị tổn thƣơng nhất, do họ làm trong những ngành nghề không có sự 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quản lý chặt chẽ của cơ quan nhà nƣớc và quy định của pháp luật lao động, dễ bị lạm dụng tình dục, nơi họ đến lao động họ hầu nhƣ không đƣợc hƣởng các chính sách an sinh xã hội. Lao động nữ di cƣ phi chính thức ở Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản sau: Một là, số lượng lao động nữ di cư ngày càng tăng, tập trung ở các thành phố lớn Theo Báo cáo của Tổng cục Thống kê, năm 2012 số lao động di cƣ là 6,57 triệu ngƣời; năm 2015, số lao động di cƣ là 17,6 triệu ngƣời, năm 2016, tổng số lao động phi chính thức ở Việt Nam là hơn 18,01 triệu ngƣời, tăng 2,8% so với năm 2015; trong đó, nữ chiếm hơn 7,8 triệu ngƣời, tƣơng đƣơng 43,56% [32]. Một dự báo cho thấy, ngƣời lao động di cƣ giữa các tỉnh sẽ tiếp tục gia tăng mạnh mẽ so với tỷ lệ gia tăng dân số, năm 2019, số ngƣời lao động di cƣ là 8 triệu ngƣời, chiếm 9,4% tổng dân số. Các tỉnh có tỷ lệ ngƣời lao động di cƣ cao là các tỉnh nghèo, có mật độ dân số cao, thu nhập bình quân đầu ngƣời thấp.
Xét về nơi đến, các địa phƣơng cũng có sự thu hút lao động nhập cƣ khác nhau. Khu vực Đông Nam Bộ có sức hút lớn nhất, với tỷ suất ngƣời lao động nhập cƣ lên đến 127%, do nơi này là khu vực kinh tế năng động nhất, tập trung nhiều khu công nghiệp. Con số này gấp 8 lần Đồng bằng sông Hồng và 32 lần đồng bằng sông Cửu Long. Đông Nam Bộ có 16,3% dân số, nhƣng chiếm tới 37% số doanh nghiệp của cả nƣớc và thu hút tới 44% tổng vốn đăng ký đầu tƣ trực tiếp của nƣớc ngoài trong 20 năm (1988-2008).
Đặc biệt, có tới 99,7% ngƣời xuất cƣ lao động ở Đồng bằng sông Cửu Long chọn điểm đến là Đông Nam Bộ. Tỷ lệ này ở Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là 74%. Đồng bằng sông Hồng là vùng lao động nhập cƣ lớn thứ hai của cả nƣớc. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hai là, lao động nữ di cư phi chính thức là đối tượng gặp nhiều khó khăn, dễ bị tổn thương.
Ngƣời lao động nữ di cƣ nói chung và lao động nữ di cƣ phi chính thức nói riêng thƣờng gặp những khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt là trong thời gian đầu của di cƣ. Khó khăn mà họ thƣờng gặp là khó khăn về nhà ở, phƣơng tiện đi lại, nuôi dạy con cái, hƣởng thụ sự trợ giúp từ phía Nhà nƣớc, tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội cho ngƣời nghèo, hộ khẩu. Báo cáo nghiên cứu của Actionaid (2009) tại các khu công nghiệp nằm trên địa bàn của ba thành phố lớn (Hà Nội, Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh) cho thấy, Lao động nữ di cƣ phi chính thức thƣờng không có bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế hay các chính sách trợ cấp xã hội khác; không thể tự bảo vệ mình khỏi những rủi ro về sức khỏe và an toàn bản thân.