CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1. Ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận 1. Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống Commented [PPL1]: 1.Ẩn dụ từ vựng (ad ngôn ngữ, ad chết) => phương thức chuyển nghĩa của từ, tạo từ mới (theo Trong ngôn ngữ học truyền thống, ẩn dụ là một vấn đề thuộc ngôn ngữ chứ ju.xtepanov) => ad chết vì có thể có trong từ điển không phải là vấn đề của tư duy hay hành động. Nó là phương tiện của trí tưởng 2.
Ẩn dụ tu từ - Cách diễn đạt, hình tượng tượng thi ca và cảm hứng tu từ chứ không phải ngôn ngữ thông thường. Ẩn dụ tri nhận (bao gồm 1+2) 4. Ẩn dụ ngữ pháp: ngôn ngữ học truyền thống đã loại trừ ẩn dụ ra khỏi phạm vi lý luận. Từ đây, thơ ca - Là một khái niệm mang tính ẩn dụ -Là đối tượng nghiên của chức năng hệ thống do Hallidays đề và nghệ thuật được đặt ở ngoại diên của đời sống tinh thần và cho rằng ẩn dụ không xuất.
Thể hiện: đóng vai trò gì trong những vấn đề quan trọng của cuộc sống. + Hiện tượng danh hóa + Hiện tượng chuyển hóa Khi nói về ẩn dụ, các nhà ngôn ngữ học nước ngoài đã nghiên cứu về ẩn dụ là: “Bản thân từ Metaphor trong tiếng Hy Lạp cũng có nghĩa là sự chuyển nghĩa, và khi một từ vẫn còn liên hệ với biểu vật cũ nhưng lại có sự liên hệ mới với cái biểu vật mới thì hiện tượng ngôn ngữ đó là ẩn dụ” (Theo Ju. Golovin thì ông cho rằng: “Sự chuyển đổi của các từ từ một đối tượng này sang một đối tượng khác trên cơ sở sự giống nhau của chúng được gọi là ẩn dụ” [14, tr. Theo quan niệm truyền thống, các nhà nghiên cứu có điểm chung khi nói về ẩn dụ.
Nguyễn Đức Tồn đã nói: “Ẩn dụ là phép hay cách thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có sự tương đồng hay giống nhau” [17, tr. Cũng bàn về ẩn dụ, Nguyễn Văn Tu cho rằng: “Ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp. Muốn hiểu được mối quan hệ đó chúng ta phải so sánh ngầm. Khác với hoán dụ, phép ẩn dụ, ta theo tưởng tượng của ta mà gọi một sự vật, chỉ có vài dấu hiệu chung với sự vật mà từ biểu thị trước thôi.
Chính nhờ những dấu hiệu chung gián tiếp ấy mà ta thấy mối quan hệ giữa các sự vật khác nhau” [8, tr. 9 Với Nguyễn Thiện Giáp, ông cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau”. Như vậy, dựa trên quan điểm của các tác giả về ẩn dụ, ta thấy rằng ẩn dụ ở đây chỉ đơn thuần là một biện pháp tu từ được sử dụng nhiều trong thi ca và nghệ thuật nhằm tăng sức gọi hình và gợi cảm cho tác phẩm. Ở những phần tiếp theo, các quan niệm mới về ảnh dụ sẽ làm rõ hơn những vấn đề chưa được giải thích thấu đáo và sâu xa từ các nhạc sĩ.
Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận 1. Tri nhận và mô hình tri nhận Tri nhận là khái niệm trung tâm của khoa học tri nhận. Nó “biểu hiện một quá trình nhận thức hoặc tổng thể những quá trình tâm lý (tinh thần, tư duy) – tri giác, phạm trù hoá, tư duy, lời nói. phục vụ cho việc xử lí lời nói và chế biến thông tin.
Nó bao gồm cả việc con người nhận thức và đánh giá cả bản thân mình trong thế giới xung quanh và xây dựng thế giới đặc biệt - tất cả những cái tạo thành cơ sở cho hành vi của con người” [1, tr. Như vậy, “tri nhận là tất cả quá trình trong đó dữ liệu cảm tính được cải biến khi truyền vào não dưới dạng những biểu hiện tinh thần (hình ảnh, mệnh đề, khung, cảnh.) để có thể lưu lại trong trí nhớ của con người.90] “Đôi khi tri nhận còn được định nghĩa như sự tính toán, nghĩa là xử lý thông tin dưới dạng những kí hiệu, cải biến nó từ dạng này sang dạng khác – thành mật mã khác, thành cấu trúc khác” [1, tr. Các quá trình tri nhận bao gồm: quá trình nhận thức, ý niệm hoá, phạm trù hoá, tri giác và các biểu hiện tinh thần đang diễn ra trong bộ não của con người, nhờ đó con người nhận được những tri thức về thế giới. Mô hình tri nhận “là tổng số các ý niệm đã trải qua và đã tích lũy được cho một lĩnh vực nhất định ở một cá nhân; Mô hình tri nhận là phương thức tổ chức và biểu đạt các kiến thức do con người tạo ra khi tương tác với ngoại giới.
Thay cho 10 tất cả các hiện tượng mà chúng ta tình cờ thấy hằng ngày, chúng ta đã có kinh nghiệm và lưu giữ một số lớn các ngữ cảnh có quan hệ qua lại. Các phạm trù tri nhận không chỉ phụ thuộc vào cái ngữ cảnh trực tiếp mà chúng được ấn vào, mà còn phụ thuộc vào rất nhiều ngữ cảnh có liên hệ với nó. Vì thế, sẽ là rất hữu ích nếu có một thuật ngữ bao trùm tất cả các biểu tượng tri nhận được tích trữ thuộc về một trường nhất định (. Các mô hình tri nhận dựa trên cơ sở tâm lí của tri thức tích trữ về một phạm vi nhất định.
Bởi vì trạng thái tâm lí luôn luôn là riêng tư và là những kinh nghiệm cá nhân, việc miêu tả các mô hình tri nhận như thế cần thiết phải bao gồm một mức độ đáng kể của sự lí tưởng hóa. Nói cách khác, việc miêu tả các mô hình tri nhận được dựa trên tiền ước rằng có nhiều người có cùng tri thức cơ bản về sự vật” [5, tr. Theo các nhà ngôn ngữ, trong quá trình tri nhận, các lược đồ ý niệm là lược đồ tổ chức kiến thức của con người. Từ đây, nó tạo ra những mô hình tri nhận về bất kì lĩnh vực nào đó trên thế giới mà chúng ta cần hiểu.
Những mô hình tri nhận được dùng để nhận thức về những trải nghiệm của con người và suy luận về nó. Các mô hình tri nhận thuộc về những kinh nghiệm và tư duy của con người. Nói cách khác, mô hình tri nhận thuộc về tiềm thức, được sử dụng một cách máy móc và dễ dàng, được vận dụng theo vô thức và tự động. Ẩn dụ tri nhận Khi công trình Metaphor we live by của G.
Johnson ra đời vào năm 1980. Công trình đã trình bày quan điểm ẩn dụ không chỉ là một thủ thuật tu từ của văn thơ, mà là một cơ chế cực kì quan trọng giúp cho tư duy của con người lĩnh hội thế giới. Lakoff và Johnson cho rằng: “Hệ thống ý niệm đời thường của chúng ta, mà trong khuôn khổ của nó chúng ta suy nghĩ và hành động, về bản chất là ẩn dụ”. Công trình cũng cho rằng: “Ẩn dụ về bản chất chủ yếu mang tính ý niệm; Ẩn dụ ý niệm đặt cơ sở trên trải nghiệm hằng ngày” [3, tr.
Như vậy, ngay cả trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta không chỉ dùng các ẩn dụ được quy ước hoá và từ vựng hoá những ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) bằng một cách thuần tuý 11 ngôn ngữ học mà sự thật là ta có suy nghĩ hay ý niệm hoá phạm trù “đích” thông qua phạm trù “nguồn”. Lý thuyết chung của ẩn dụ nằm trong những đặc điểm của sự xác lập khái quát có tính liên tưởng. Trong quá trình đó, những khái niệm trừu tượng hàng ngày như thời gian, trạng thái, thay đổi, nguyên nhân, kết quả, mục đích. đều trở nên có tính ẩn dụ.
Khác với ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ truyền thống, ẩn dụ tri nhận (hay ẩn dụ ý niệm), ngoài chức năng quy ước hóa và từ vựng hóa, nó còn có chức năng ý niệm hóa, thể hiện cách tư duy, tri nhận về sự vật của con người theo phương thức nhất định. Lý Toàn Thắng đã nhắc đến sự quan trọng của ẩn dụ tri nhận trong ngôn ngữ khi so sánh với ẩn dụ truyền thống và ẩn dụ tu từ học: “Ẩn dụ theo truyền thống văn học và tu từ học thường được coi là một trong hai (cùng với hoán dụ) kiểu chính của phép dùng từ theo nghĩa bóng, được xây dựng trên những khái niệm về sự tương tự và so sánh giữa nghĩa đen và nghĩa bóng của từ ngữ; thí dụ chân núi (so với: chân người); ánh sáng chân lý (so với: ánh sáng mặt trời ). Tuy nhiên, chúng ta chưa khảo sát và chưa đánh giá hết tầm quan trọng của ẩn dụ trong ngôn ngữ đời thường hàng ngày và nhất là như một công cụ tri nhận mạnh mẽ để niệm hoá các phạm trù trừu tượng” [9, tr. Trần Văn Cơ cũng viết: “Ẩn dụ tri nhận (hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm – cognitive/conceptual metaphor) – đó là một trong những hình thức ý niệm hoá, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới và không có nó thì không thể nhận được tri thức mới” [1, tr.
“Về nguồn gốc, ẩn dụ tri nhận đáp ứng năng lực của con người nắm bắt và tạo ra sự giống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tượng khác nhau. Ý niệm và sự ý niệm hóa Như đã nói ở phần 1.2, ta có được “ẩn dụ ý niệm” trong tiếng Anh là “conceptual metaphor”, từ đây suy ra nghĩa tiếng Anh trong từ “ý niệm” là “concept”. Theo từ điển tiếng Anh, “concept” trong tiếng Việt thường mang 12 nghĩa là “khái niệm”. Nhưng đối với các nhà ngôn ngữ học tri nhận, “concept” có nghĩa là “ý niệm”- mang nghĩa rộng hơn và bao hàm cả nghĩa gốc.
Theo nhà ngôn ngữ học Y. Xtepanov thì “khái niệm” là thuật ngữ của triết học, còn “ý niệm” là thuộc về logic toán học và văn hóa học. Cụ thể: “Ý niệm tựa như một khối kết đông của nền văn hóa trong ý thức con người; dưới dạng của nó nền văn hóa đi vào thế giới ý thức (tư duy) của con người, và, mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó con người – người bình thường, không phải là “người sáng tạo ra những giá trị văn hóa” – chính con người đó đi vào văn hóa, và trong một số trường hợp nhất định có tác động đến văn hóa” [7, tr. Từ đây, ta rút ra được ý niệm là miền đất hội tụ của các nền văn hóa, nó sản sinh ra trong ý thức con người, dựa vào sự tích lũy trong tri thức nền của mỗi cá nhân nhiều hay ít thì ý niệm sẽ nhiều hay ít.