Ẩn Dụ Tri Nhận Trong Ca Từ Lam Phương

Khám phá ẩn dụ tri nhận độc đáo trong ca từ Lam Phương. Phân tích ngôn ngữ học sâu sắc về tình yêu, cuộc đời qua lăng kính âm nhạc trữ tình.

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

160
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

1.1. Ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận

1.2. Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống

1.3. Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận

1.4. Tri nhận và mô hình tri nhận

1.5. Ẩn dụ tri nhận

1.6. Ý niệm và sự ý niệm hóa

1.7. Tính nghiệm thân

1.8. Lược đồ hình ảnh

1.9. Cấu trúc của ẩn dụ tri nhận

1.10. Phân loại ẩn dụ tri nhận

1.11. Lam Phương, cuộc đời và sự nghiệp

1.11.1. Cuộc đời, sự nghiệp Lam Phương

1.11.2. Phong cách sáng tác của Lam Phương

2. CHƯƠNG 2: ẨN DỤ TRI NHẬN VỀ TÌNH YÊU TRONG CA TỪ LAM PHƯƠNG

2.1. Xác lập ẩn dụ tri nhận về tình yêu trong ca từ Lam Phương

2.2. Các miền nguồn ẩn dụ tri nhận về tình yêu trong ca từ Lam Phương

2.3. Các miền Nguồn chiếu xạ đến miền Đích TÌNH YÊU

2.4. Các thuộc tính của miền nguồn chiếu xạ đến miền đích TÌNH YÊU

2.5. Miền nguồn là CĂN BỆNH

2.6. Miền nguồn là THIÊN NHIÊN

2.7. Miền nguồn là CUỘC HÀNH TRÌNH

2.8. Miền nguồn là SỰ GẦN GŨI

2.9. Miền nguồn là SỰ CHỜ ĐỢI/ KHAO KHÁT BÊN NHAU

2.10. Miền nguồn là TÌNH YÊU LÀ NHIỆT/ LẠNH

2.11. Miền nguồn là VẬT/BẦU CHỨA ĐỰNG TÌNH CẢM

2.12. Miền nguồn là NỖI NHỚ

2.13. Miền nguồn là SỰ NGÂY NGẤT

2.14. Miền nguồn là KHÚC CA/BÀI THƠ

3. CHƯƠNG 3: ẨN DỤ TRI NHẬN VỀ CUỘC ĐỜI TRONG CA TỪ LAM PHƯƠNG

3.1. Xác lập ẩn dụ tri nhận về cuộc đời trong ca từ Lam Phương

3.2. Các miền nguồn ẩn dụ tri nhận về cuộc đời trong ca từ Lam Phương

3.3. Miền nguồn chiếu xạ đến miền đích CUỘC ĐỜI

3.4. Các thuộc tính của miền nguồn chiếu xạ đến miền đích CUỘC ĐỜI

3.5. Miền nguồn là CUỘC HÀNH TRÌNH

3.6. Miền nguồn là CAY ĐẮNG

3.7. Miền nguồn là THIÊN NHIÊN

3.8. Miền nguồn là DÒNG SÔNG

3.9. Cơ sở kinh nghiệm làm nền tảng cho các ẩn dụ tri nhận trong ca từ Lam Phương

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Ẩn Dụ Tri Nhận Trong Ca Từ Lam Phương 55

Ngôn ngữ học tri nhận là một trào lưu mới, phát triển mạnh mẽ trong những thập kỷ gần đây. Nghiên cứu ẩn dụ tri nhận trong văn học và âm nhạc là một hướng đi đầy tiềm năng. Nó cho phép ta khám phá sự sáng tạo, phá cách trong cách cảm nhận thế giới, tìm tòi các mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng, vượt xa cách hiểu thông thường. Nhạc sĩ Lam Phương, một tên tuổi lớn của tân nhạc Việt Nam, đã để lại một di sản đồ sộ với hơn 217 nhạc phẩm. Ca từ của ông, giản dị mà sâu sắc, chan chứa cảm xúc, dễ dàng chạm đến trái tim người nghe. Nghiên cứu ca từ Lam Phương từ góc độ ẩn dụ tri nhận mở ra một hướng tiếp cận mới, giúp chúng ta hiểu rõ hơn quá trình tư duy và ý niệm trừu tượng mà nhạc sĩ gửi gắm trong những lời ca.

1.1. Sự Phát Triển của Ngôn Ngữ Học Tri Nhận Toàn Cầu

Ngôn ngữ học tri nhận bắt đầu phát triển từ những năm 80 của thế kỷ XX, với những tên tuổi như Lakoff và Johnson. Công trình “Metaphors We Live By” (1980) đặt nền móng cho sự nghiên cứu ngôn ngữ trong mối liên hệ với các ngành khoa học khác. Quan điểm “dĩ nhân vi trung” được lấy làm đối tượng nghiên cứu. Theo Lakoff, toàn bộ hệ thống ngôn ngữ mang tính ẩn dụ. Kinh nghiệm về sự vật A được dùng để nói về sự vật B, khiến các khái niệm mang tính ẩn dụ.

1.2. Nghiên Cứu Ẩn Dụ Tri Nhận Trong Nước Tổng Quan Tình Hình

Tại Việt Nam, Lý Toàn Thắng (2004) là người đầu tiên giới thiệu về ngôn ngữ học tri nhận một cách hệ thống. Phan Thế Hưng (2007) phủ nhận quan điểm so sánh trong ẩn dụ, cho rằng ẩn dụ là câu bao hàm xếp loại thuộc cấu trúc bề sâu của tư duy. Trần Văn Cơ (2009) giới thiệu khái luận về ngôn ngữ học tri nhận và lý thuyết ẩn dụ ý niệm ở Việt Nam. Các nghiên cứu này đặt nền tảng cho việc tìm hiểu sâu hơn về ẩn dụ tri nhận trong ngôn ngữ.

II. Thách Thức Giải Mã Ý Nghĩa Sâu Xa Ca Từ Lam Phương 58

Mặc dù ca từ Lam Phương quen thuộc với nhiều thế hệ người Việt, việc giải mã ý nghĩa sâu xa đằng sau những lời ca ấy vẫn là một thách thức. Nhiều khái niệm trừu tượng như tình yêu, cuộc đời, nỗi buồn được thể hiện thông qua biện pháp tu từ trong ca từ, đặc biệt là ẩn dụ. Người nghe có thể cảm nhận được cảm xúc, nhưng để hiểu rõ quá trình tư duy và ý niệm mà nhạc sĩ gửi gắm, cần có một phương pháp phân tích khoa học. Phân tích ngôn ngữ học, đặc biệt là ẩn dụ tri nhận, cung cấp một công cụ hữu ích để vượt qua thách thức này. Nó giúp chúng ta khám phá những tầng nghĩa ẩn sau lớp vỏ ngôn từ, hiểu rõ hơn về phong cách Lam Phương và giá trị văn hóa mà ông mang lại.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Xác Định và Phân Loại Ẩn Dụ

Xác định và phân loại ẩn dụ trong ca từ không phải lúc nào cũng dễ dàng. Ranh giới giữa ẩn dụ và các biện pháp tu từ khác như so sánh, hoán dụ đôi khi rất mong manh. Cần phải có kiến thức vững chắc về lý thuyết ẩn dụ và kinh nghiệm phân tích ẩn dụ để đưa ra những nhận định chính xác. Ngoài ra, việc phân loại ẩn dụ cũng đòi hỏi sự am hiểu về văn hóa Việt Nam, vì nhiều ẩn dụ mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc.

2.2. Hạn Chế Trong Việc Tiếp Cận Tài Liệu Nghiên Cứu Chuyên Sâu

Số lượng tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về ẩn dụ tri nhận trong ca nhạc Việt Nam còn hạn chế. Điều này gây khó khăn cho các nhà nghiên cứu trong việc tiếp cận những kiến thức mới và xây dựng cơ sở lý luận vững chắc. Cần có thêm nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề này để làm phong phú thêm nguồn tài liệu và mở ra những hướng tiếp cận mới.

III. Phương Pháp Phân Tích Ngôn Ngữ Học Ca Từ Lam Phương 59

Để giải quyết những thách thức trên, cần áp dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ học một cách bài bản và khoa học. Bước đầu tiên là xác định các ẩn dụ tri nhận trong ca từ Lam Phương. Tiếp theo, phân tích cấu trúc và cơ chế hoạt động của các ẩn dụ này, tìm hiểu xem chúng được xây dựng dựa trên những kinh nghiệm tri giác nào. Sau đó, xem xét mối liên hệ giữa các ẩn dụ này với văn hóa Việt Namâm nhạc Việt Nam. Cuối cùng, đánh giá giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của ẩn dụ tri nhận trong ca từ Lam Phương. Phương pháp này không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về ngôn ngữ trong ca từ mà còn khám phá được những giá trị sâu sắc về tình yêu trong ca từ, nỗi buồn trong ca từsự cô đơn trong ca từ.

3.1. Xác Định Các Ẩn Dụ Tri Nhận Trong Ca Từ

Bước đầu tiên là đọc kỹ và lựa chọn các câu, đoạn ca từ có sử dụng ẩn dụ. Cần chú ý đến những cách diễn đạt khác thường, những hình ảnh so sánh ngầm, những liên tưởng độc đáo. Sau đó, phân tích nghĩa đen và nghĩa bóng của các từ ngữ, tìm ra mối liên hệ giữa hai nghĩa này. Cuối cùng, xác định miền nguồn và miền đích của ẩn dụ, tức là khái niệm cụ thể được dùng để diễn tả khái niệm trừu tượng.

3.2. Phân Tích Cơ Chế Hoạt Động Của Ẩn Dụ Tri Nhận

Sau khi xác định được ẩn dụ, cần phân tích cơ chế hoạt động của nó. Điều này bao gồm việc tìm hiểu cách miền nguồn chiếu xạ sang miền đích, những thuộc tính nào của miền nguồn được chuyển sang miền đích. Cần chú ý đến vai trò của kinh nghiệm tri giác và tri nhận học trong việc hình thành ẩn dụ. Ví dụ, ẩn dụ về tình yêu thường được xây dựng dựa trên những kinh nghiệm về sự ấm áp, gần gũi, hoặc sự đau khổ.

IV. Ứng Dụng Ẩn Dụ Tri Nhận Về Tình Yêu Trong Ca Từ 56

Ca từ Lam Phương thường sử dụng ẩn dụ tri nhận để diễn tả tình yêu. Tình yêu có thể được ví như một căn bệnh, một cuộc hành trình, một ngọn lửa, hoặc một bầu chứa đựng tình cảm. Mỗi ẩn dụ mang đến một góc nhìn khác nhau về tình yêu, thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau. Ẩn dụ về tình yêu giúp người nghe dễ dàng hình dung và cảm nhận được sự phức tạp của tình yêu. Ví dụ, khi tình yêu được ví như một ngọn lửa, nó thể hiện sự đam mê, nhiệt huyết, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ tàn lụi, thiêu đốt.

4.1. Tình Yêu Là Căn Bệnh Phân Tích Chi Tiết

Trong một số ca khúc, tình yêu được ví như một căn bệnh. Ẩn dụ này thể hiện sự đau khổ, dằn vặt, mất kiểm soát mà tình yêu có thể gây ra. Người yêu có thể trở thành một nỗi ám ảnh, một cơn nghiện, khiến người ta mất ăn mất ngủ. Ví dụ, trong ca khúc “Điên”, Lam Phương viết: “…tình yêu là một cơn điên…”. Điều này cho thấy sự ám ảnh và mất lý trí trong tình yêu.

4.2. Tình Yêu Là Cuộc Hành Trình Ý Nghĩa Ngôn Ngữ

Một ẩn dụ phổ biến khác là tình yêucuộc hành trình. Ẩn dụ này thể hiện sự khám phá, trải nghiệm, và những khó khăn, thử thách trên con đường tình yêu. Hai người yêu nhau cùng nhau vượt qua những gian nan, cùng nhau xây dựng một tương lai. Ví dụ, ca khúc “Thuyền Không Bến Đỗ” gợi lên hình ảnh cuộc hành trình lênh đênh trên biển cả, tượng trưng cho sự bấp bênh của tình yêu.

V. Ẩn Dụ Tri Nhận Về Cuộc Đời Trong Ca Từ Lam Phương 57

Không chỉ tình yêu, cuộc đời cũng là một chủ đề được Lam Phương khai thác sâu sắc thông qua ẩn dụ tri nhận. Cuộc đời có thể được ví như một dòng sông, một cuộc hành trình, hoặc một bản nhạc. Mỗi ẩn dụ phản ánh một khía cạnh khác nhau của cuộc đời, từ những niềm vui, hạnh phúc đến những nỗi buồn, mất mát. Ẩn dụ về cuộc đời giúp người nghe suy ngẫm về ý nghĩa của sự tồn tại, về những giá trị đích thực trong cuộc sống.

5.1. Cuộc Đời Là Dòng Sông Góc Nhìn Triết Lý

Ẩn dụ cuộc đờidòng sông thể hiện sự trôi chảy, biến đổi không ngừng của thời gian. Mỗi người là một dòng sông nhỏ, đổ vào biển lớn của cuộc đời. Trên dòng sông ấy, có những khúc quanh, thác ghềnh, tượng trưng cho những khó khăn, thử thách. Ví dụ, hình ảnh dòng sông trong ca khúc “Chiều Thu Quạnh Hiu” gợi lên sự cô đơn, lẻ loi và những biến động của cuộc đời.

5.2. Cuộc Đời Là Cuộc Hành Trình Khát Vọng và Tìm Kiếm

Ẩn dụ cuộc đờicuộc hành trình thể hiện sự tìm kiếm, khám phá và khát vọng vươn lên của con người. Mỗi người là một lữ khách trên con đường cuộc đời, luôn đi tìm ý nghĩa và mục đích sống. Trên hành trình ấy, có những niềm vui, hạnh phúc, nhưng cũng có những nỗi buồn, thất vọng. Ví dụ, hình ảnh người lữ khách trong ca khúc “ Thành Phố Buồn” gợi lên sự cô đơn, lạc lõng và mong muốn tìm kiếm một bến đỗ bình yên.

VI. Kết Luận Giá Trị Ca Từ Lam Phương Hướng Nghiên Cứu 55

Nghiên cứu ẩn dụ tri nhận trong ca từ Lam Phương cho thấy sự sáng tạo và độc đáo trong cách sử dụng ngôn ngữ của nhạc sĩ. Ẩn dụ không chỉ là một biện pháp tu từ mà còn là một công cụ tư duy, giúp Lam Phương diễn tả những khái niệm trừu tượng một cách sinh động và dễ hiểu. Ca từ Lam Phương, thông qua ẩn dụ tri nhận, đã chạm đến trái tim của nhiều thế hệ người Việt, góp phần làm phong phú thêm nền âm nhạc Việt Nam. Nghiên cứu này mở ra hướng tiếp cận mới trong việc phân tích và đánh giá các tác phẩm văn học nghệ thuật.

6.1. Ứng Dụng Nghiên Cứu Vào Giảng Dạy Văn Học

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng trong giảng dạy văn học, giúp học sinh, sinh viên hiểu sâu hơn về ẩn dụ tri nhận và cách nó được sử dụng trong ca từ Lam Phương. Từ đó, nâng cao khả năng cảm thụ văn học và tư duy ngôn ngữ.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Mở Rộng So Sánh Với Nhạc Sĩ Khác

Nghiên cứu có thể được mở rộng bằng cách so sánh cách sử dụng ẩn dụ tri nhận trong ca từ Lam Phương với ca từ của các nhạc sĩ khác như Trịnh Công Sơn, Văn Cao,… Từ đó, làm rõ hơn những đặc điểm riêng trong phong cách sáng tác của từng nhạc sĩ.

17/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1. Ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận 1. Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống Commented [PPL1]: 1.Ẩn dụ từ vựng (ad ngôn ngữ, ad chết) => phương thức chuyển nghĩa của từ, tạo từ mới (theo Trong ngôn ngữ học truyền thống, ẩn dụ là một vấn đề thuộc ngôn ngữ chứ ju.xtepanov) => ad chết vì có thể có trong từ điển không phải là vấn đề của tư duy hay hành động. Nó là phương tiện của trí tưởng 2.

Ẩn dụ tu từ - Cách diễn đạt, hình tượng tượng thi ca và cảm hứng tu từ chứ không phải ngôn ngữ thông thường. Ẩn dụ tri nhận (bao gồm 1+2) 4. Ẩn dụ ngữ pháp: ngôn ngữ học truyền thống đã loại trừ ẩn dụ ra khỏi phạm vi lý luận. Từ đây, thơ ca - Là một khái niệm mang tính ẩn dụ -Là đối tượng nghiên của chức năng hệ thống do Hallidays đề và nghệ thuật được đặt ở ngoại diên của đời sống tinh thần và cho rằng ẩn dụ không xuất.

Thể hiện: đóng vai trò gì trong những vấn đề quan trọng của cuộc sống. + Hiện tượng danh hóa + Hiện tượng chuyển hóa Khi nói về ẩn dụ, các nhà ngôn ngữ học nước ngoài đã nghiên cứu về ẩn dụ là: “Bản thân từ Metaphor trong tiếng Hy Lạp cũng có nghĩa là sự chuyển nghĩa, và khi một từ vẫn còn liên hệ với biểu vật cũ nhưng lại có sự liên hệ mới với cái biểu vật mới thì hiện tượng ngôn ngữ đó là ẩn dụ” (Theo Ju. Golovin thì ông cho rằng: “Sự chuyển đổi của các từ từ một đối tượng này sang một đối tượng khác trên cơ sở sự giống nhau của chúng được gọi là ẩn dụ” [14, tr. Theo quan niệm truyền thống, các nhà nghiên cứu có điểm chung khi nói về ẩn dụ.

Nguyễn Đức Tồn đã nói: “Ẩn dụ là phép hay cách thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có sự tương đồng hay giống nhau” [17, tr. Cũng bàn về ẩn dụ, Nguyễn Văn Tu cho rằng: “Ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp. Muốn hiểu được mối quan hệ đó chúng ta phải so sánh ngầm. Khác với hoán dụ, phép ẩn dụ, ta theo tưởng tượng của ta mà gọi một sự vật, chỉ có vài dấu hiệu chung với sự vật mà từ biểu thị trước thôi.

Chính nhờ những dấu hiệu chung gián tiếp ấy mà ta thấy mối quan hệ giữa các sự vật khác nhau” [8, tr. 9 Với Nguyễn Thiện Giáp, ông cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau”. Như vậy, dựa trên quan điểm của các tác giả về ẩn dụ, ta thấy rằng ẩn dụ ở đây chỉ đơn thuần là một biện pháp tu từ được sử dụng nhiều trong thi ca và nghệ thuật nhằm tăng sức gọi hình và gợi cảm cho tác phẩm. Ở những phần tiếp theo, các quan niệm mới về ảnh dụ sẽ làm rõ hơn những vấn đề chưa được giải thích thấu đáo và sâu xa từ các nhạc sĩ.

Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận 1. Tri nhận và mô hình tri nhận Tri nhận là khái niệm trung tâm của khoa học tri nhận. Nó “biểu hiện một quá trình nhận thức hoặc tổng thể những quá trình tâm lý (tinh thần, tư duy) – tri giác, phạm trù hoá, tư duy, lời nói. phục vụ cho việc xử lí lời nói và chế biến thông tin.

Nó bao gồm cả việc con người nhận thức và đánh giá cả bản thân mình trong thế giới xung quanh và xây dựng thế giới đặc biệt - tất cả những cái tạo thành cơ sở cho hành vi của con người” [1, tr. Như vậy, “tri nhận là tất cả quá trình trong đó dữ liệu cảm tính được cải biến khi truyền vào não dưới dạng những biểu hiện tinh thần (hình ảnh, mệnh đề, khung, cảnh.) để có thể lưu lại trong trí nhớ của con người.90] “Đôi khi tri nhận còn được định nghĩa như sự tính toán, nghĩa là xử lý thông tin dưới dạng những kí hiệu, cải biến nó từ dạng này sang dạng khác – thành mật mã khác, thành cấu trúc khác” [1, tr. Các quá trình tri nhận bao gồm: quá trình nhận thức, ý niệm hoá, phạm trù hoá, tri giác và các biểu hiện tinh thần đang diễn ra trong bộ não của con người, nhờ đó con người nhận được những tri thức về thế giới. Mô hình tri nhận “là tổng số các ý niệm đã trải qua và đã tích lũy được cho một lĩnh vực nhất định ở một cá nhân; Mô hình tri nhận là phương thức tổ chức và biểu đạt các kiến thức do con người tạo ra khi tương tác với ngoại giới.

Thay cho 10 tất cả các hiện tượng mà chúng ta tình cờ thấy hằng ngày, chúng ta đã có kinh nghiệm và lưu giữ một số lớn các ngữ cảnh có quan hệ qua lại. Các phạm trù tri nhận không chỉ phụ thuộc vào cái ngữ cảnh trực tiếp mà chúng được ấn vào, mà còn phụ thuộc vào rất nhiều ngữ cảnh có liên hệ với nó. Vì thế, sẽ là rất hữu ích nếu có một thuật ngữ bao trùm tất cả các biểu tượng tri nhận được tích trữ thuộc về một trường nhất định (. Các mô hình tri nhận dựa trên cơ sở tâm lí của tri thức tích trữ về một phạm vi nhất định.

Bởi vì trạng thái tâm lí luôn luôn là riêng tư và là những kinh nghiệm cá nhân, việc miêu tả các mô hình tri nhận như thế cần thiết phải bao gồm một mức độ đáng kể của sự lí tưởng hóa. Nói cách khác, việc miêu tả các mô hình tri nhận được dựa trên tiền ước rằng có nhiều người có cùng tri thức cơ bản về sự vật” [5, tr. Theo các nhà ngôn ngữ, trong quá trình tri nhận, các lược đồ ý niệm là lược đồ tổ chức kiến thức của con người. Từ đây, nó tạo ra những mô hình tri nhận về bất kì lĩnh vực nào đó trên thế giới mà chúng ta cần hiểu.

Những mô hình tri nhận được dùng để nhận thức về những trải nghiệm của con người và suy luận về nó. Các mô hình tri nhận thuộc về những kinh nghiệm và tư duy của con người. Nói cách khác, mô hình tri nhận thuộc về tiềm thức, được sử dụng một cách máy móc và dễ dàng, được vận dụng theo vô thức và tự động. Ẩn dụ tri nhận Khi công trình Metaphor we live by của G.

Johnson ra đời vào năm 1980. Công trình đã trình bày quan điểm ẩn dụ không chỉ là một thủ thuật tu từ của văn thơ, mà là một cơ chế cực kì quan trọng giúp cho tư duy của con người lĩnh hội thế giới. Lakoff và Johnson cho rằng: “Hệ thống ý niệm đời thường của chúng ta, mà trong khuôn khổ của nó chúng ta suy nghĩ và hành động, về bản chất là ẩn dụ”. Công trình cũng cho rằng: “Ẩn dụ về bản chất chủ yếu mang tính ý niệm; Ẩn dụ ý niệm đặt cơ sở trên trải nghiệm hằng ngày” [3, tr.

Như vậy, ngay cả trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta không chỉ dùng các ẩn dụ được quy ước hoá và từ vựng hoá những ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) bằng một cách thuần tuý 11 ngôn ngữ học mà sự thật là ta có suy nghĩ hay ý niệm hoá phạm trù “đích” thông qua phạm trù “nguồn”. Lý thuyết chung của ẩn dụ nằm trong những đặc điểm của sự xác lập khái quát có tính liên tưởng. Trong quá trình đó, những khái niệm trừu tượng hàng ngày như thời gian, trạng thái, thay đổi, nguyên nhân, kết quả, mục đích. đều trở nên có tính ẩn dụ.

Khác với ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ truyền thống, ẩn dụ tri nhận (hay ẩn dụ ý niệm), ngoài chức năng quy ước hóa và từ vựng hóa, nó còn có chức năng ý niệm hóa, thể hiện cách tư duy, tri nhận về sự vật của con người theo phương thức nhất định. Lý Toàn Thắng đã nhắc đến sự quan trọng của ẩn dụ tri nhận trong ngôn ngữ khi so sánh với ẩn dụ truyền thống và ẩn dụ tu từ học: “Ẩn dụ theo truyền thống văn học và tu từ học thường được coi là một trong hai (cùng với hoán dụ) kiểu chính của phép dùng từ theo nghĩa bóng, được xây dựng trên những khái niệm về sự tương tự và so sánh giữa nghĩa đen và nghĩa bóng của từ ngữ; thí dụ chân núi (so với: chân người); ánh sáng chân lý (so với: ánh sáng mặt trời ). Tuy nhiên, chúng ta chưa khảo sát và chưa đánh giá hết tầm quan trọng của ẩn dụ trong ngôn ngữ đời thường hàng ngày và nhất là như một công cụ tri nhận mạnh mẽ để niệm hoá các phạm trù trừu tượng” [9, tr. Trần Văn Cơ cũng viết: “Ẩn dụ tri nhận (hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm – cognitive/conceptual metaphor) – đó là một trong những hình thức ý niệm hoá, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới và không có nó thì không thể nhận được tri thức mới” [1, tr.

“Về nguồn gốc, ẩn dụ tri nhận đáp ứng năng lực của con người nắm bắt và tạo ra sự giống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tượng khác nhau. Ý niệm và sự ý niệm hóa Như đã nói ở phần 1.2, ta có được “ẩn dụ ý niệm” trong tiếng Anh là “conceptual metaphor”, từ đây suy ra nghĩa tiếng Anh trong từ “ý niệm” là “concept”. Theo từ điển tiếng Anh, “concept” trong tiếng Việt thường mang 12 nghĩa là “khái niệm”. Nhưng đối với các nhà ngôn ngữ học tri nhận, “concept” có nghĩa là “ý niệm”- mang nghĩa rộng hơn và bao hàm cả nghĩa gốc.

Theo nhà ngôn ngữ học Y. Xtepanov thì “khái niệm” là thuật ngữ của triết học, còn “ý niệm” là thuộc về logic toán học và văn hóa học. Cụ thể: “Ý niệm tựa như một khối kết đông của nền văn hóa trong ý thức con người; dưới dạng của nó nền văn hóa đi vào thế giới ý thức (tư duy) của con người, và, mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó con người – người bình thường, không phải là “người sáng tạo ra những giá trị văn hóa” – chính con người đó đi vào văn hóa, và trong một số trường hợp nhất định có tác động đến văn hóa” [7, tr. Từ đây, ta rút ra được ý niệm là miền đất hội tụ của các nền văn hóa, nó sản sinh ra trong ý thức con người, dựa vào sự tích lũy trong tri thức nền của mỗi cá nhân nhiều hay ít thì ý niệm sẽ nhiều hay ít.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ