ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh lý tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới, nhiều hơn cả bệnh lý ung thư, dù là ở các nước đã hay đang phát triển. Tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y tế mỗi năm có khoảng 200.000 người tử vong vì bệnh tim mạch, chiếm 33% ca tử vong. Theo thống kê của Viện Tim Mạch năm 2015, tỷ lệ tăng huyết áp ở người trưởng thành trong độ tuổi 18 – 65 chiếm 25%, vậy cứ 4 người trưởng thành thì có một người tăng huyết áp. Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ tử vong do đột quỵ lên gấp 4 lần và tăng nguy cơ tử vong do bệnh lý tim mạch lên gấp 3 lần so với người không mắc bệnh 1.
Có rất nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch: Tuổi, giới tính, sử dụng thuốc lá, ít vận động, tiêu thụ rượu quá mức, chế độ ăn uống không lành mạnh, béo phì, yếu tố di truyền và tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch, tăng huyết áp (huyết áp), tăng lượng đường trong máu (bệnh đái tháo đường), tăng cholesterol trong máu (tăng lipid máu), bệnh celiac không được chẩn đoán, các yếu tố tâm lý xã hội, nghèo đói, tình trạng giáo dục thấp và ô nhiễm không khí. Mặc dù mức ảnh hưởng của từng yếu tố nguy cơ riêng lẻ là khác nhau giữa các cộng đồng hoặc các nhóm dân tộc, tuy nhiên nhìn chung mức độ ảnh hưởng của tất cả các yếu tố nguy cơ này là rất lớn. Một trong những yếu tố nguy cơ này, như tuổi tác, giới tính hoặc tiền sử gia đình/ khuynh hướng di truyền, là không thay đổi được; tuy nhiên, nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng có thể thay đổi bằng cách thay đổi lối sống, thay đổi xã hội, điều trị bằng thuốc (ví dụ như phòng ngừa tăng huyết áp, tăng lipid máu và tiểu đường). Những người mắc bệnh béo phì có nguy cơ bị xơ vữa động mạch vành hay rối loạn lipid máu 2,3.
Cho đến gần đây các dấu ấn sinh học như lipid huyết thanh, glucose và hormone đã được xác định có liên quan đến, nguy cơ tim mạch. Albumin là một protein 69 kDa chiếm hơn một nửa số toàn bộ thành phần huyết thanh của. Hạ albumin máu là một dấu hiệu tiên lượng mạnh mẽ trong dân số nói chung và nhiều cơ sở bệnh lý. Nguyên nhân chủ yếu của hạ albumin máu là do suy dinh dưỡng và viêm.
Tuy nhiên, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy nồng độ albumin huyết thanh thấp có liên quan đến sự xuất hiện của một số bệnh tim mạch như bệnh tim thiếu máu cục bộ, suy tim, rung nhĩ, đột quỵ và huyết khối tĩnh mạch, và không phụ thuộc vào các yếu tố nguy cơ truyền thống, chỉ số khối cơ thể và tình trạng viêm. Hạ albumin máu cũng được xem là một thông số tiên lượng mạnh ở bệnh nhân với nhiều bệnh tim mạch, ngay cả sau khi điều chỉnh theo nguyên nhân các yếu tố và các dấu hiệu tiên lượng truyền thống. Theo những nghiên cứu gần đây, tính chất của albumin huyết thanh bao gồm tác dụng thẩm thấu keo và hoạt động chống viêm, chống oxy hóa, chống đông máu và chống kết tập tiểu cầu. Hiện tượng giảm albumin máu có thể coi là một yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được ở những bệnh nhân mắc một số bệnh tim mạch 2,4,5.
Tại Việt Nam, số nghiên cứu về đặc điểm nồng độ albumin máu với các bệnh lý mạn tính còn hạn chế. Một vài nghiên cứu đề cập đến nguy cơ bệnh lý tim mạch ở bệnh nhân suy thận mạn tính qua biểu hiện của nồng độ albumin hay đánh giá mối liên quan giữa nồng độ albumin máu với mức độ viêm tụy cấp. Kết quả của các nghiên cứu đa phần còn rời rạc và chưa thống nhất. Vì thế, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với mục đích nhằm cung cấp một cái nhìn chi tiết hơn về tỷ lệ bất thường nồng độ albumin máu.
Bên cạnh đó chúng tôi cung cấp thêm bằng chứng đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ tim mạch lên bệnh nhân góp phần nâng cao chẩn đoán và tiên lượng điều trị các bệnh lý tim mạch. 3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Có mối tương quan giữa hạ albumin huyết thanh và yếu tố nguy cơ tim mạch trên bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Quân y 7A không? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỷ lệ hạ albumin huyết thanh ở bệnh nhân tim mạch điều trị tại Bệnh viện Quân y 7A. Xác định mối tương quan giữa hạ albumin huyết thanh và các yếu tố nguy cơ tim mạch trên bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Quân y 7A.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về albumin 1. Định nghĩa Albumin, có nguồn gốc từ tiếng Đức albumen, tường chỉ có protein. Albumen, mặt khác, bắt nguồn từ tiếng Latinh albus (lòng trắng) chỉ phần lòng trắng của trứng nấu chín bao quanh lòng đỏ.
Protein là thành phần của lòng trắng trứng tạo nên một phần của nhóm protein không đồng nhất, được chỉ định rộng rãi là albumin, bao gồm albumin huyết thanh (SA), albumin sữa, protein tiết niệu và dịch tiết của ốc sên. Cụ thể hơn, SA là thành viên của một gia đình của các protein tương đồng được đặc trưng bởi các đặc điểm cấu trúc và các đặc tính liên kết phối từ đặc biệt. Thành viên của họ này là α-fetoprotein (AFP), afamin (AFM; còn được đặt tên là α-albumin), và protein liên kết vitamin D (vitamin D binding protein – DBP) 6-8. Tổng quan chức năng và liên quan bệnh lý Albumin huyết thanh (Albumin), protein phong phú nhất trong huyết thanh, là một đại phân tử đa miền đơn phân, đại diện cho yếu tố quyết định chính của áp suất huyết tương và là chất điều biến chính cho sự phân phối chất lỏng giữa các khoang cơ thể.
Albumin hiển thị khả năng liên kết phối từ đặc biệt, cung cấp kho và chất mang cho nhiều hợp chất nội sinh và ngoại sinh. Thật vậy, albumin đại diện cho chất mang chính cho các axit béo, ảnh hưởng đến dược động học của nhiều loại thuốc, cung cấp sự thay đổi chuyển hoá của một số phối từ, tạo ra độc tố tiềm ẩn vô hại, chiếm hầu hết khả năng chống oxy hoá của huyết tương người và biểu hiện các đặc tính enzyme. Albumin là một dấu ấn sinh học có giá trị của nhiều các bệnh, bao gồm ung thư, viêm khớp dạng thấp, thiếu máu cục bộ, béo phì sau mãn kinh, bệnh ghép vật chủ cấp tính nghiêm trọng, và các bệnh cần theo dõi kiểm soát đường huyết. Hơn nữa, albumin được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng để điều trị một số bệnh, bao gồm.
5 giảm thể tích tuần hoàn, sốc, bỏng, mất máu phẫu thuật, chấn thương, xuất huyết, hội chứng suy hô hấp cấp, chạy thận nhân tạo, suy gan cấp, bệnh gan mãn tính, hỗ trợ dinh dưỡng, hồi sức. Gần đây, công nghệ sinh học đã ứng dụng albumin như vật liệu sinh học có thể cấy ghép, chất kết dính trong phẫu thuật, sắc ký sinh học. Tính chất sinh học của albumin Có từ 10 đến 15g albumin được tổng hợp trong gan mỗi ngày và được giải phóng vào khoang mạch. Thời gian bán huỷ của albumin trung bình là 17 ngày.
Trao đổi giữa các khoang nội mạch và kẽ là không đổi, với 40% tổng lượng albumin còn lại trong không gian nội mạch. Sự tổng hợp albumin được kích thích bởi insulin, aminoaxit và áp suất thẩm thấu keo thấp. Các yếu tố làm giảm tổng hợp bao gồm áp suất thẩm thấu keo cao, suy dinh dưỡng, viêm nhiễm, tiểu đường, bệnh gan và nhiễm trùng huyết. Các cơ chế thoái hoá chưa được hiểu rõ, nhưng quá trình này xảy ra chủ yếu ở da, cơ, gan và thận.
Phạm vi tham chiếu bình thường cho albumin huyết thanh ở người lớn là 3,5 và 5g/dl, nhưng giá trị ngưỡng xác định mức độ bệnh lý có thể khác nhau giữa các xét nghiệm này với xét nghiệm khác. Nồng độ albumin huyết thanh ở phụ nữ thấp hơn một chút về mặt sinh lý so với nam giới và giảm nhẹ theo tuổi 9-11. Albumin huyết thanh có nhiều đặc tính sinh lý như: chất mang nội sinh và ngoại sinh (ion vô cơ, axit béo, bilirubin, vitamin, hormone, steroid và non-steroid). Albumin huyết thanh có hoạt tính chống viêm nhưng chưa được hiểu rõ.
Ngược lại, albumin huyết thanh được xem như chất chống oxy hoá quan trọng nhất trong máu toàn phần. Albumin huyết thanh chứa nhiều nhóm thiol, chiếm > 80% tổng số thiols trong huyết tương lọc các loại oxy phản ứng và nitơ. Ngoài ra, một số chất như axit nitric và bilirubin là được mang bởi albumin huyết thanh và cung cấp sự bảo vệ bổ sung chống lại phản ứng oxy hoá. Albumin huyết thanh còn có tác dụng trong hoạt tính chống đông máu và chống kết tập tiểu cầu.
Albumin huyết thanh cũng góp phần. 6 duy trì sự ổn định của màng mao mạch và cân bằng nội mô. Theo phương trình của Starling, áp suất mao dẫn thuỷ tĩnh là chính lựu chịu trách nhiệm cho việc truyền chất lỏng từ nội mạch đến khoảng không gian kẽ. Áp suất thẩm thấu keo huyết tương, trong đó khoảng 80% tác dụng do albumin huyết thanh, là lực lượng chính chống lại sự thoát mạch chất lỏng bên ngoài nội mạch ngăn.
Sự mất cân bằng lực lượng của Starling do hậu quả của hạ albumin máu gây ra sự thoát mạch ròng của chất lỏng đến mô kẽ không gian, dẫn đến hình thành phù nề kẽ, giảm thể tích tuần hoàn và chất lỏng lưu giữ. Cần bằng nội môi trong dịch phổi có những đặc điểm cụ thể như bảo vệ chống lại sự giảm thẩm thấu keo huyết thanh bị cô lập áp suất và tăng áp suất thuỷ tĩnh mao mạch phổi, thậm chí vừa phải, là nguyên nhân gây phù phổi cấp 2,3,8. Vai trò của albumin huyết thanh trong các bệnh lý tim mạch Cho đến nay, các báo cáo tần suất hạ albumin huyết thanh ở bệnh nhân bệnh tim mạch vẫn chưa có nhiều. Tuy nhiên, tần suất được ghi nhận là đáng kể với mức độ khác nhau giữa các nghiên cứu.
Tần suất hạ albumin huyết thanh phổ biến chiếm khoảng 13% ở bệnh mạch vành ổn định đến 20 – 30% ở bệnh mạch vành cấp tính, hội chứng vành cấp và nhồi máu cơ tim, từ 20 – 25% ở suy tim mãn tính đến 90% ở bệnh nhân già yếu bị tim cấp tính suy và từ 14% đến 30% trong bệnh tim bẩm sinh, đột quy, thay van động mạch chủ qua tim và viêm nội tâm mạc nhiễm trùng. Tỷ lệ hạ albumin huyết thanh trong rung nhĩ, tăng huyết áp động mạch phổi và thiết yếu, cũng như ở tĩnh mạch thuyên tắc huyết khối thì chưa rõ 11-14.