chương 1, khóa luận thể hiện tổng quan chung về các vấn đề nghiên cứu như sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu tổng quát và cụ thể của nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu, đóng góp của mới và bố cục của khóa luận. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Tại chương này tập trung mô tả về các cơ sở lý thuyết về FDI như định nghĩa, đặc điểm, các hình thức FDI vào một quốc gia và các yếu tố ảnh hưởng đến FDI. Đồng thời, khóa luận thực hiện phân tích các nghiên cứu trước đây của các tác giả trong và ngoài nước, từ đó rút ra các nhận xét để tiến hành xây dựng mô hình phù hợp tại Việt Nam. Chương 3: Mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Chương 3 tập trung vào phân tích thực trạng và rút ra đặc điểm của nguồn vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2005 – 2020.
Từ đó lựa chọn các yếu tố ảnh hưởng, xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm cho Việt Nam và chi tiết dữ liệu, quy trình thực hiện nghiên cứu. 5 Chương 4: Thực hiện mô hình nghiên cứu và thảo luận kết quả 6 Trong chương này, tác giả thực hiện chạy mô hình nghiên cứu dựa trên phần mềm Eview 10 theo từng bước của quy trình. Sau đó, thực hiện việc phân tích và thảo luận kết quả thực nghiệm. Chương 5: Hàm ý chính sách nhằm gia tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Trong chương 5, tác giả nêu tóm tắt ngắn gọn về mức độ ảnh hưởng của nghiên cứu chính.
Sau đó, dựa vào mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố mà đưa ra hàm ý chính sách phù hợp cho Việt Nam. Cuối cùng, nêu rõ các hạn chế nghiên cứu và đưa ra hướng nghiên cứu mở rộng phủ hợp. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 2. Các vấn đề liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.
Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo UNCTAD (2007) định nghĩa, đầu tư trực tiếp nước ngoài là khoản đầu tư dài hạn, thể hiện quyền kiểm soát và nhằm thu về lợi ích của NĐT nước ngoài (hoặc DN mẹ) vào một thực thể thường trú (DN liên kết, công ty liên kết nước ngoài, công ty con,…) tại một nền kinh tế khác. Mục đích của NĐT là đạt được mức độ ảnh hưởng trong quản lý DN khi đặt tại nền kinh tế ấy. Báo cáo của WTO (1996) cho rằng FDI xảy ra khi NĐT tại quốc gia sở tại sở hữu tài sản ở quốc gia khác với mục đích quản lý tài sản đó, khi đó họ là người đưa ra các quyết định quan trọng về chính sách và chiến lược của công ty. Quyền quản lý chính là điểm phân biệt FDI với đầu tư gián tiếp, cụ thể như đầu tư cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính khác.
Trong đa phần các trường hợp, NĐT và tài sản mà họ quản lý đều là các công ty kinh doanh, NĐT thường được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản là “công ty liên kết” hoặc các “công ty con”. Trong Sổ tay cán cân thanh toán của IMF, được ấn bản lần thứ 5 (BPM5) định nghĩa FDI là loại đầu tư quốc tế phản ánh mục tiêu của NĐT trong một nền kinh tế có được lợi ích lâu dài đối với một DN cư trú trong một nền kinh tế khác. Lợi ích lâu dài nhấn mạnh sự tồn tại mối quan hệ lâu dài giữa NĐT đối với DN và muốn có được nhiều mức độ ảnh hưởng trong quản lý DN được đặt tại nền kinh tế khác đó. Riêng tại Việt Nam, Luật Đầu tư (2005) định nghĩa: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”.
Đầu tư nước ngoài bao gồm cả hoạt động đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, trong đó “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. 8 Do đó, tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về FDI nhưng tất cả đều có điểm thống nhất như FDI là hoạt động đầu tư của NĐT nước ngoài vào nền kinh tế của nước khác thông qua nguồn vốn bằng tiền hoặc các tài sản hợp phát, nhờ đó họ có quyền sở hữu, tham gia điều hành và quản lý nhằm mục đích thu về lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư. Thu hút FDI chính là hệ thống các chính sách mà Chính phủ hoặc chính quyền của một địa phương đưa ra nhằm thu hút các NĐT đưa nguồn vốn bằng tiền, tài sản hợp pháp hoặc các công nghệ sản xuất,… vào quốc gia hoặc địa phương để thực hiện các hoạt động kinh doanh, từ đó tìm kiếm lợi nhuận, lợi ích lớn hơn so với đầu tư tại quốc gia của họ. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Thứ nhất, FDI là nguồn vốn của các NĐT nước ngoài mang vào một quốc gia khác để đầu tư với mục đích là tìm kiếm lợi nhuận, họ có quyền quản lý và quyết định về việc tự lựa chọn hình thức, quy mô kinh doanh, công nghệ và tự chịu trách nhiệm cho các kết quả kinh doanh cùng với rủi ro của mình, hình thức này giúp nâng cao hiệu quả kinh tế thông qua thúc đẩy phát triển các ngành nghề mới và bảo đảm an ninh tài chính cho nước nhận nguồn vốn tốt hơn so với các khoản nợ vay.
Do đó, khác với các nguồn vốn khác như vốn vay, NĐT không có trách nhiệm phải hoàn trả các khoản nợ của lượng vốn đầu tư ban đầu hoặc tạo gánh nặng về nợ cho các quốc gia tiếp nhận đầu tư. Thứ hai, các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một lượng vốn tối thiểu trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định để tham gia quản lý hoặc kiểm soát DN của nước nhận đầu tư. Nếu NĐT đầu tư 100% vốn thì có toàn quyền quyết định và trong trường hợp góp vốn thì quyền kiểm soát phụ thuộc vào tỷ lệ phần trăm góp. Các quốc gia khác nhau trên thế giới đều có các quy định khác nhau về lượng vốn tối thiểu, tương tự tại Việt Nam tùy theo quy mô và lĩnh vực khác nhau sẽ có mức vốn tối thiểu khác nhau.
Thu nhập từ đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh, mức độ lãi hoặc lỗ được chia theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với phần vốn góp. 9 Thứ ba, FDI là nguồn vốn đầu tư bổ sung rất cần thiết cho nền kinh tế, hình thức đầu tư này có tính vật chất, gắn liền với xây dựng các công trình, nhà máy, cơ sở sản xuất do đó lượng vốn thường lớn, ổn định trong thời gian dài. Điều này khác với đầu tư gián tiếp nước ngoài, là hình thức NĐT bỏ vốn vào đầu tư thông qua các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu,…nhưng không nắm quyền quản lý và thời gian đầu tư ngắn. Nếu lượng vốn đầu tư gián tiếp vào một quốc gia tăng mạnh, hệ thống tài chính nước đó dễ bị tổn thương và dẫn đến khủng hoảng tài chính, từ đó có thể rơi vào tình trạng bong bóng tài sản tài chính.
Thứ tư, phần trăm vốn góp trong khoản vốn pháp định hay vốn điều lệ của mỗi NĐT sẽ quyết định quyền và nghĩa vụ mà mỗi bên tham gia, đồng thời còn xác định được khoản lợi nhuận được nhận cũng như là rủi ro mà mỗi bên phải chịu. Nếu NĐT bỏ 100% khoản vốn pháp định, họ sẽ là người có toàn quyền quản lý, điều hành của DN. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 2. Theo cách thức xâm nhập Đầu tư mới: Khi các NĐT tiến hành đầu tư xây dựng DN, cơ sở sản xuất, mua sắm tài sản, thiết lập các công thức kinh doanh mới tại khu vực hoặc quốc gia sở tại.
Mua lại và sáp nhập (M&A): Là hình thức NĐT mua cổ phần, mua lại một DN có vốn FDI ở nước nhận đầu tư hoặc nhiều DN có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập với nhau. Các hình thức này không hoàn toàn làm tăng khối lượng đầu tư vào. Theo mục đích của nhà đầu tư Đầu tư theo chiều ngang: Là hình thức NĐT dựa vào các lợi thế có sẵn trong ngành để thiết lập tình trạng hoạt động cùng ngành với nước chủ tại nước tiếp nhận đầu tư. Điều này giúp gia tăng lợi nhuận ở thị trường nước ngoài của các NĐT.
Đầu tư theo chiều dọc: Là hình thức NĐT tập trung tận dụng các nguồn lực có sẵn của nước tiếp nhận đầu tư như nguồn lao động, nguyên vật liệu, chi phí của các yếu tố sản xuất, chi phí vận tải giá rẻ, thuế suất ưu đãi,… để phát triển kinh doanh và thu lợi nhuận. Đây là hình thức đầu tư FDI phổ biến mà các NĐT áp dụng, trong đó có cả Việt 1 Nam. Theo tính chất dòng vốn Vốn tái đầu tư: Là hình thức DN có vốn FDI sử dụng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để tái đầu tư trong hiện tại. Vốn chứng khoán: Là hình thức NĐT tham gia vào quản lý, điều hành doanh nghiệp thông qua mua tỷ lệ cổ phần hoặc trái phiếu DN do DN tại nước sở tại phát hành ở mức đủ lớn.
Theo hình thức hoạt động sản xuất kinh doanh Hợp đồng liên doanh (BCC): Là hình thức ký kết hợp đồng hai bên giữa DN trong nước và NĐT nước ngoài hoặc nhiều bên với nhau để thực hiện kinh doanh và đầu tư, cùng nhau chịu trách nhiệm và chia sẻ lợi nhuận, rủi ro mà không cần phải thành lập pháp nhân, tối giản được các thủ tục pháp lý nên thường được các NĐT lựa chọn trong giai đoạn đầu. Ưu điểm của hình thức này chính là có thể giải quyết được tình trạng thiếu vốn, thiết lập thị trường mới, thu được lợi nhuận khá ổn định và NĐT vẫn có quyền điều hành, quản lý tại nước tiếp nhận đầu tư. Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là NĐT khó kiểm soát quyền quản lý vì BCC không thành lập pháp nhân nên mọi hoạt động kinh doanh đều phải phụ thuộc vào DN trong nước và nước tiếp nhận đầu tư không nhận được kinh nghiệm quản lý, công nghệ không được tân tiến.