phần mở đầu danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo và kết luận, bố cục bài luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín của Ngân hàng TMCP Đầu Tƣ và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Phú Nhuận. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu Tƣ và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Phú Nhuận. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.
KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là một quan hệ ra đời gắn liền với sản xuất và lƣu thông hàng hóa trong nền kinh tế. Tín dụng bắt nguồn từ chữ Credit – Creditum – hay đƣợc hiểu đơn giản là một “quan hệ sử dụng sự tín nhiệm”. Có thể xem xét khái niệm tín dụng dƣới nhiều góc độ và trong những bối cảnh khác nhau, chẳng hạn: trên thị trƣờng tài chính, theo nguồn gốc lịch sử… Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể.
(Lê Văn Tề, 2010) Trong giao dịch ngân hàng: “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/ tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. (Bùi Diệu Anh, 2020) Tín dụng là khoản mục sử dụng vốn lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại thu nhập lớn nhất của các ngân hàng. Vì vậy sự thành công hay thất bại của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào hoạt động tín dụng. Đặc điểm hoạt động tín dụng ngân hàng Tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng đa dạng, có thể dưới dạng tiền tệ, tài sản thực hoặc chữ ký.
Đối với ngân hàng, tín dụng ngân hàng có thể thông qua hình thái tiền tệ, tài sản thực hoặc bằng chữ ký. Do hệ thống ngân hàng không chỉ có chức năng trung gian tín dụng mà còn có chức năng trung gian thanh toán cho nền kinh tế, nên giá trị tiền tệ mà tín dụng ngân hàng chủ yếu thực hiện dƣới dạng bút tệ mà không nhất thiết là tiền mặt. Hành vi giải ngân tiền vay của ngân hàng có thể đƣợc thực hiện bằng cách chuyển khoản vào tài khoản của chính khách hàng vay hoặc đối tác của họ. 7 Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bán lẻ có thể cấp tín dụng bằng tài sản thực cho ngƣời tiêu dùng thông qua việc bán hàng trả góp (tài sản trả góp có thể là căn hộ chung cƣ, xe cộ, đồ dùng gia đình…).
Đối với các tổ chức tín dụng, cấp tín dụng bằng tài sản thực là việc tổ chức tín dụng cho khách hàng thuê tài sản thông qua giao dịch cho thuê tài chính. Hiện nay theo quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam, cho thuê tài chính là sản phẩm riêng có của các công ty cho thuê tài chính (một loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng), ngân hàng không trực tiếp cung cấp loại hình sản phẩm này. Cùng với sự lớn mạnh về quy mô hoạt động, uy tín của các ngân hàng trong nền kinh tế cũng gia tăng, từ đó xuất hiện một loại hình tín dụng ngân hàng độc đáo với tên gọi là tín dụng chữ ký. Thực chất của loại hình tín dụng này là những cam kết thanh toán có điều kiện mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng của mình.
Trong các giao dịch đó, ngân hàng không chuyển giao tiền hoặc tài sản thực cho khách hàng, nhƣng sự cam kết đảm bảo của ngân hàng có thể giúp cho các khách hàng những thuận lợi trong giao dịch với đối tác của họ. Tín dụng chữ ký của ngân hàng có thể thực hiện dƣới các hình thức cụ thể nhƣ bảo lãnh ngân hàng, tín dụng chứng từ với công cụ thƣ tín dụng, hối phiếu chấp nhận của ngân hàng… Rủi ro trong tín dụng ngân hàng có tính tất yếu, không thể loại trừ hoàn toàn. Không chỉ tín dụng ngân hàng, tất cả các giao dịch tín dụng nói chung đều dựa trên cơ sở của lòng tin. Rủi ro tín dụng sẽ xảy ra khi một trong hai yếu tố: khả năng trả nợ/ hoặc thiện chí trả nợ không đƣợc hình thành đầy đủ.
Mặt khác trong quá trình khách hàng sử dụng tín dụng, có rất nhiều biến cố khách quan ngoài tầm kiểm soát của cả ngân hàng lẫn khách hàng, làm cho khả năng trả nợ thay đổi, vì vậy độ rủi ro tiềm ẩn trong quan hệ tín dụng là khá cao, các ngân hàng chỉ có thể kiểm soát, giảm thiểu, hạn chế nó chứ không loại bỏ hoàn toàn đƣợc rủi ro tín dụng. Ngoài ra, nguồn vốn mà các ngân hàng sử dụng để cấp tín dụng chủ yếu hình thành từ các khoản tiền huy động vốn, vay mƣợn trong nền kinh tế và trong xã hội, 8 vì vậy hơn bất kỳ một chủ thể cấp tín dụng nào, bảo đảm sự an toàn của nguồn vốn tín dụng và yếu tố sống còn trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Sự hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi là bản chất của tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng. Trong tín dụng ngân hàng thì sự hoàn trả cực kỳ quan trọng.
Để đảm bảo hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi, trong nghiệp vụ tín dụng phải cân nhắc 2 yếu tố căn bản sau đây: Thứ nhất là xác định thời hạn và kỳ hạn tín dụng hợp lý. Thời hạn tín dụng đƣợc xác định căn cứ vào thời gian luân chuyển của đối tƣợng cấp tín dụng và khả năng tài chính/ thu nhập của khách hàng. Kỳ hạn trả gốc và lãi đƣợc thể hiện trong phƣơng pháp hoàn trả mà ngân hàng áp dụng bao gồm trả góp, phi trả góp và trả tuần hoàn nhiều lần. Nếu ngân hàng áp dụng phƣơng pháp trả không thích hợp thì việc khách hàng phá vỡ kế hoạch trả nợ rất dễ xảy ra.
Thứ hai là chính sách lãi suất tín dụng cần phải đảm bảo một cách hài hòa giữa mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng và đƣợc nền kinh tế chấp nhận. Tín dụng không chỉ nhằm tạo ra lợi nhuận cho bản thân ngân hàng, mà còn quan trọng hơn, tín dụng còn là đòn bẩy phát triển kinh tế, do vậy lãi suất tín dụng phải thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế. Nếu các yếu tố trên không đƣợc thỏa mãn, hệ thống ngân hàng và các khách hàng của họ sẽ gặp khó khăn, từ đó ảnh hƣởng đến nền kinh tế nói chung. Sự hoàn trả trong tín dụng ngân hàng là vô điều kiện.
Các chứng từ đƣợc hình thành trong quan hệ tín dụng ngân hàng nhƣ hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, khế ƣớc nợ… đều thể hiện trên đó nội dung cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi khoản nợ đến hạn. Đây chính là những ràng buộc pháp lý mà khách hàng phải tuân thủ trong quá trình sử dụng tín dụng của ngân hàng. CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm chất lƣợng tín dụng ngân hàng Chất lƣợng tín dụng là một phạm trù phản ánh mức độ rủi ro và sinh lời trong bảng tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng.
Chất lƣợng tín dụng thể hiện năng lực quản lý hoạt động tín dụng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và hạn chế rủi ro đảm bảo an toàn về vốn và khả năng sinh lời của ngân hàng (Phạm Thị Loan. Nhƣ vậy có thể hiểu chất lƣợng tín dụng là khái niệm phản ánh mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng, thể hiện mức độ đáp ứng yêu cầu của khách hàng, mức độ phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo dự tồn tại, phát triển của ngân hàng. Các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng tín dụng ngân hàng Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng vốn Đây là chỉ tiêu phản ánh tƣơng quan giữa nguồn vốn huy động và dƣ nợ cho vay trực tiếp khách hàng. Hiệu suất sử dụng vốn cho biết một đơn vị tài sản thì có bao nhiêu đồng đƣợc sử dụng để cho vay trực tiếp khách hàng.
Hiệu quả sử dụng vốn = (Tổng dƣ nợ/ Tổng huy động vốn) x 100% Tỷ lệ này sẽ trở nên lý tƣởng khi nó xấp xỉ bằng 100%, khi đó NHTM đã chủ động đƣợc nguồn vốn huy động để cân đối nhu cầu cho vay. Tuy nhiên, trong thực tế không phải lúc nào và ở đâu ngân hàng cũng tự cân đối đƣợc vốn huy động để đáp ứng nhu cầu cho vay. Mặc dù vậy, tín dụng là hạng mục sinh lời chủ yếu, nên hiệu suất sử dụng vốn càng cao thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng hiệu quả và ngƣợc lại. (Nguyễn Văn Tiến, 2012) Chất lượng tín dụng thông qua phân loại các nhóm nợ, tỷ lệ nợ quá hạn Nợ quá hạn sinh ra khi khoản vay đến hạn mà khách hàng không hoàn trả đƣợc toàn bộ hay một phần tiền gốc hoặc lãi vay.
Để dễ dàng cho các ngân hàng kiểm soát và quản lý các khoản nợ này, NHNN Việt Nam đã phân loại theo thời hạn thành 5 nhóm sau: Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): các khoản nợ quá hạn từ 1 đến 10 ngày. 10 Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý): các khoản nợ quá hạn từ ngày 11 đến 90 ngày. Nợ nhóm 3 (Nợ dƣới tiêu chuẩn): các khoản nợ quá hạn từ ngày 91 đến 180 ngày. Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): các khoản nợ quá hạn từ ngày 181 đến 360 ngày.
Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): các khoản nợ quá hạn từ ngày 361 trở lên. Nợ quá hạn là các khoản nợ thuộc nhóm 2, 3, 4, 5. Nếu nhóm nợ 1 mà gia tăng, hoặc cơ cấu nhóm nợ theo hƣớng giảm các nhóm nợ xấu thì nghĩa là chất lƣợng tín dụng đang đƣợc nâng lên. Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh số dƣ gốc và lãi đã quá hạn mà chƣa thu hồi đƣợc.
Nợ quá hạn cho biết, cứ trên 100 đồng dƣ nợ hiện hành có bao nhiêu đồng đã quá hạn, đây là một chỉ tiêu cơ bản cho biết chất lƣợng hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn = (Số dƣ nợ quá hạn/ Tổng dƣ nợ) x 100% Tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lƣợng tín dụng thấp; ngƣợc lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp chứng tỏ chất lƣợng tín dụng cao.