Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứ u Nghiên cứu về người chưa thành niên là mối quan tâm lớn của các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như về mặt, tâm lý, sức khỏe, sinh học, luật học.trong đó có các nhà xã hội học. Vùng chủ đề nghiên cứu này cũng vô cùng phong phú và đa dạng đã thu hút nhiều nhà xã hội học, trong đó thì nghiên cứu về hành vi phạm pháp của người chưa thành niên là một mảng chủ để nóng hổi, được các học giả nghiên cứu trên nhiều chiều cạnh về cả mặt lý luận và thực tiễn.Đôn-gô-va (Người dịch: Lục Thanh Hải, Hiệu đính: Nguyễn Tất Viên) (1987), Những khía cạnh tâm lý - xã hội về tình trạng phạm tội của người chưa thành niên. Cuốn sách là một tài liệu tham khảo tốt cho việc phân tích đặc trưng tâm lý lứa tuổi người chưa thành niên. Đặc biệt là những phân tích xoáy sâu vào môi trường xã hội của người phạm tội chưa thành niên.
Tác giả đã đưa ra cơ chế xác định nguyên nhân xã hội của hành vi phạm tội của cá nhân bao gồm ba mặt. Thứ nhất: bằng cách đặt cá nhân vào những vị trí xã hội (được hiểu như là mối quan hệ trong hệ thống xã hội) mà toàn bộ các vị trí đó tự chúng có khả năng loại trừ cá nhân một cách hoàn toàn hoặc từng phần ra khỏi phạm vi tác động của các yếu tố tích cực làm cho các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng lên cá nhân đó. Thứ hai: bằng cách đặt ra các quy định từ các vị trí đang có của cá nhân không phù hợp với các quy định pháp luật và cơ sở đạo đức nằm trong các quy định đó mâu thuẫn với nhau. Thứ ba: bằng cách hình thành nhân cách do kết qủa của quá trình lâu dài của các vị trí, vai trò xã hội của cá nhân, sự hình thành này ảnh hưởng đến đặc tính tiếp thu và thực hiện các quy định tương ứng.
Tác giả cũng đưa ra những khác biệt về môi trường xã hội giữa nhóm người chưa thành niên phạm tội với người thành niên phạm tội để nhận thấy rằng môi trường xã hội của nhóm chưa thành niên phạm tội có nhiều vấn đề đó thường là gia đình không thuận lợi như gặp khó khăn về kinh tế, thiếu quan tâm con cái hay trong gia đình có cha mẹ có tiền án, việc giáo dục nhà 17 trường không hiệu quả. Tác giả nghiên cứu có 90% thanh thiếu niên đã sử dụng bạo lực là sống ở môi trường mà ở đó đặc trưng bởi việc vi phạm các quy phạm đạo đức và pháp luật tại gia đình và trong nhóm bạn bè, trong số đó có 60% thực hiện trong các điều kiện sống biến dạng hoàn toàn của nguyên nhân phát sinh tội phạm từ các gia đình và các nhóm bạn bè mang đặc tính vi phạm cùng một lúc các quy phạm đạo đức và pháp luật. Ngoài những phân tích trên tác giả cũng đã phân loại người phạm tội chưa thành niên với ba loại trong mối quan hệ với môi trường xã hội đó là: + Loại hình phạm pháp có hệ thống: Ở môi trường xung quanh của những người này, cũng như bản thân họ luôn luôn có sự vi phạm các quy tắc đạo đức và pháp luật một cách có hệ thống. Hành vi phạm tội đã trở thành một thói quen xử sự của họ và nó là kết quả của những quan điểm, mục đích và định hướng xã hội của chủ thể.
+ Loại hình phạm pháp do bối cảnh: Đặc điểm của loại hình này là vi phạm những quy tắc đạo đức và thực hiện những vụ vi phạm pháp luật không mang tính chất tội phạm. Phần lớn hành vi phạm tội được thực hiện là do có tình huống không thuận lợi về mặt đạo đức và pháp luật. Trong trường hợp này sự tác động qua lại giữa cá nhân với môi trường xã hội có ý nghĩa quyết định. Môi trường xung quanh, toàn bộ lối sống trước đây đã dẫn họ đến con đường phạm tội.
+ Loại hình bối cảnh: Những yếu tố phi đạo đức của ý thức và hành vi của cá nhân này cũng như môi trường xã hội xung quanh của họ nếu có cũng không được thể hiện rõ. Ở đây, những khuyết, nhược điểm của cơ chế tác động qua lại giữa môi trường và cá nhân trong những tình huống phức tạp có ý nghĩa quan trọng: Những tình huống mâu thuẫn xung đột, hành vi phạm tội được thực hiện dưới ảnh hưởng quyết định của tình huống phát sinh, không phải do lỗi của người có hành vi đó và tình huống đó ở chừng mực nhất định là không bình thường đối với người đó, và trong tình huống ấy các chủ thế khác đã vi phạm các quy tắc đạo đức và pháp luật. Ở đây bối cảnh thực hiện hành vi phạm tội có một ý nghĩa quyết định. Có thể nói rằng, đây là một tài liệu hết sức quý giá trong việc đưa ra những công cụ phân tích sâu về sự ảnh hưởng của môi trường xã hội đối hành vi phạm tội 18 của người chưa thành niên.
Đề tài có thể vận dụng các công cụ lý thuyết để phân tích tìm hiểu những cơ chế kiểm soát của môi trường xã hội đối với hành vi sai lệch của vị thành niên trong quá trình phân tích. Warren Kidd, Mark Kirby, John Barter, Tanya Hope, Alison Kirton, Nick Madry, Paul Manning, Karen Triggs, Francine Koubel (Người dịch: Nguyễn Kiên Trường) (2006), Những bài giảng về xã hội học. Nội dung nghiên cứu về sự lệch hướng tập trung ở chương XII, là tập hợp nhiều quan điểm lý thuyết với những tranh luận khác nhau về chức năng và cách giải thích về sự lệch hướng với các quan điểm của các học giả tiêu biểu như Emile Durkheim, Stanley Cohen và Ian Taylor, Paul Walton và Jock Yuong. Với phân bố chương gồm tám mục đã nêu bật lên được những quan điểm về tranh luận về phân biệt sự lệch hướng và tội ác; chức năng và phi chức năng cũng như những giải thích về sự sai lệch.
Các tác giả không đi sâu trình bày các công trình nghiên cứu thực nghiệm về sự lệch hướng hay tội ác, mà với mục đích chú trọng tập hợp trình bày những quan điểm lý thuyết đa dạng về vấn đề này. Điều này cung cấp kiến thức làm sáng rõ hơn những lập luận trong đề tài nghiên cứu. Tony Bilton, Kenvin Bonnett, Philip Jones, Ken Sheard, Michelle Stanworth và Andrew Webster (Người dịch: Phạm Thủy Ba) (1993), Nhập môn xã hội học. Các tác giả đã quan tâm đưa ra những giải thích mang tính lý thuyết và thực nghiệm trong nghiên cứu về sự sai lệch, nội dung tập trung từ chương XI từ trang 394 – 443.
Ngoài việc đưa ra những giải thích về hành vi tội ác và nghiên cứu nó một cách thực chứng, các tác giả đã đưa những minh chứng và những nhận định về các mô hình tội ác qua số liệu nghiên cứu ở England và xứ Wales vào năm 1963 – 1984. Qua những phân tích này đã nêu lên những đặc tính nổi bật và mối liên hệ tội ác với giới trẻ và đàn ông. Con số tội ác từ cảnh cáo đến kết án cao nhất ở độ tuổi thanh thiếu niên, và các tác giả đã chứng minh ảnh hưởng của khu vực địa lý cụ thể giữa đô thị và nông thôn đối với vấn đề phạm pháp. Những phân tích lý thuyết và thực nghiệm của các tác giả thực sự hữu ích cho việc học hỏi và áp dụng lý thuyết trong lập luận và cách phân tích trong nghiên cứu đề tài luận văn.
19 Tr ong nước Tác giả Trần Đức Châm ( 2007), Phòng chống tệ nạn xã hội. Cuốn sách là một tập hợp những bài biết mang tính lý luận, có sử dụng những kết quả nghiên cứu từ công trình nghiên cứu thực nghiệm. Tuy nhiên tác giả không tập trung phân tích một vấn đề chuyên sâu, mà nội dung cuốn sách gợi mở vấn đề lý thuyết và những nét sơ lược về tệ nạn xã hội. Mở đầu nội dung cuốn sách tác giả đã đưa ra phân tích khái niệm tệ nạn xã hội, trong sự cố gắng phân biệt nó với hành vi sai lệch, tuy nhiên sự phân biệt đó không phải luôn luôn rạch ròi.
Song có thể nói rằng, tệ nạn chính là hiện tượng xã hội bao gồm hành vi sai lệch có tính phổ biến nhưng gây ảnh hưởng xấu về đạo đức và những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội. Tác giả đã liệt kê các loại hình tệ nạn xã hội đó là tệ nạn ma túy, mại dâm, cờ bạc và tham nhũng với những số liệu thống kê minh chứng cho luận điểm của mình về tình hình tệ nạn xã hội đang tồn tại ở Việt Nam, cụ thế ở nhóm thanh thiếu niên về tệ nạn ma túy năm 1998 có 80.000 người nghiện ma túy nặng, trong đó 70% ở lứa tuổi thanh thiếu niên, cuối 1999 có 100.000 nghiện riêng thanh thiếu niên chiếm 75 – 80%. Tệ nạn mại dâm con số gái mại dâm vị thành niên ngày càng gia tăng, con số thống kê điều tra năm 1990 ở một số tỉnh, thành phố có 2.628 gái mại dâm, trẻ em chiếm 6,3%. Cuốn sách là tập hợp một cách công phu những tổng hợp về lý luận và số liệu thực tế tình hình tệ nạn xã hội ở Việt Nam trong những năm 1990, 1991.
Điều này phản ánh hành vi sai lệch ngày càng gia tăng và đa dạng hơn ở nhóm tuổi chưa thành niên. Có thể nói rằng, đây cuốn sách đã cung cấp thêm nhiều tri thức về khái niệm cũng như cơ sở lý luận cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn cao học. Trần Đức Châm (2002), Thanh thiếu niên làm trái pháp luật: thực trạng và giải pháp. Đây là một cuốn sách khá chuyên sâu phân tích về nhóm thanh thiếu niên vi phạm pháp luật, tác giả mở đầu bằng việc đưa ra những lập luận mang tính lý thuyết và các khái niệm khi tiếp cận với vấn đề tập hợp những vấn đề lý luận về tội phạm ở thanh thiếu niên.
Nội dung sách đã trình bày về thực trạng tội phạm thanh thiếu niên ở nước ta, qua phân tích số liệu thống kê tác giả đưa ra nhận định rằng tội 20 phạm thanh thiếu niên cũng có xu hướng gia tăng và trẻ hóa, đồng thời các hành vi phạm tội ở lứa tuổi này ngày càng nghiêm trọng và liều lĩnh. Theo số liệu tổng cục thống kê của tống cục cảnh sát nhân dân hằng năm thanh, thiếu niên phạm tội chiếm 70-75% tổng số vụ trong toàn quốc, thậm chí càng có xu hướng gia tăng hàng năm.