Chương 1 TONG QUAN VE YEU TO VÔ THỨC VÀ SANG TAC CUA NGUYEN BÌNH PHƯƠNG 1. Vô thức va yếu tố vô thức trong văn hoc 1. Khái niệm vô thức cá nhân Ngay từ năm 1550 TCN chứng trầm cảm đã được nhắc đến. Đây cũng là mốc thời gian mà hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng chính là xuất phát điểm của ngành tâm lý học.
Dẫu vậy, vô thức không ra đời ở thời điểm này cũng tương tự như câu chuyện đến năm 1590 thuật ngữ “tâm lý học” mới chính thức được sử dụng. Trên thực tế, nhiều nhà nghiên cứu tìm thấy mối liên quan tương đồng giữa vô thức và tiểu ngã (atman) trong các bộ kinh của Upanishads (Ba la môn giáo) va họ định nghĩa chúng là “linh hồn bat tử, bị các yếu tố phàm phu của thé xác che lap, nhưng giữ quyền chi phối cả tâm và thé của con người” (23). Nếu điều này thực sự đúng thì vô thức cũng chỉ được quan tâm dưới dạng một khía cạnh của triết học. Nó tồn tại trong vỏ bọc một yếu tô siêu nghiệm nhưng có sức mạnh chi phối cá nhân; và đương nhiên không được gọi với cái tên “vô thức” như hiện tại.
Thậm chí từ những năm 1879 đến 1894, tâm lý học đã xuất hiện trong vai trò một bộ môn khoa học chính thức thì vô thức vẫn như một địa hạt chưa được khám phá và chưa có một định nghĩa xác đáng. Đến năm 1895, từ cuốn sách viết chung với J.Breuer - Những nghiên cứu về hysteria, Phân tâm học của S. Freud có dấu hiệu ra đời nhưng khái niệm vô thức thì phải mãi đến cuốn Giải mã giấc mơ (The Interpretation ofDreams - 1900) mới được trình bày một cách chỉ tiết và cụ thể nhất. Từ việc phân tích cơ chế hình thành giấc mơ và nội dung giấc mo, trong bài viết Vê giác mơ của mình, Freud lần đầu tiên đã nhắc đến ban chất của vô thức.
Freud thừa nhận rằng càng đi sâu vào giải mã giấc mơ thì ông lại càng thấy “có những ý nghĩ mà tôi không thể tiết lộ với người lạ, nếu nói ra sẽ vi phạm một số nguyên tắc quan trọng” [18, tr. Đặc biệt hơn, Freud cũng khang định rằng nếu 16 thay giấc mơ của ông với một giấc mơ khác thì những nội dung tối và rối đó cũng vấp phải ý nghĩ cần phải giữ kín. Suy nghĩ này thực chất đã xác định một ranh giới giữa cái được thê hiện và cái không được thể hiện. Thời điểm đó, Freud gọi vô thức là những ý nghĩ xa lạ và không dễ chịu.
Điều nổi bật nhất ở những chuỗi ý nghĩ này chính là dù Freud luôn muốn kịch liệt phản bác thì chúng vẫn “không khoan nhượng, nhất định áp đặt chúng tôi” [18, tr. Đây là một mau chốt cực kỳ quan trọng trong tư tưởng của Phân tâm học. Sự vận động của vô thức theo cách cưỡng áp này đã chứng minh cho một thực tế rằng con người không phải lúc nào cũng có thể tự làm chủ được mình. Hành động và suy nghĩ thực sự còn bị chi phối bởi các yếu tố khác, những cái mà đôi khi bản thân mỗi cá nhân cũng không lý giải được, tất nhiên, nó không thuộc về phạm trù tâm linh hay thiên thần, quỷ ác, nó tồn tại trong chính con người chúng ta.
Sự chế ngự của vô thức là hoàn toàn có thê xảy ra. Tuy nhiên, thực tế, vì ban chất của nó mang nhiều ý nghĩ không thé tiết lộ nên cái phần không muốn cho nó tiết lộ đã ấn cái năng lượng tâm lý đó xuống. Freud gọi trạng thái đặc biệt này là “đồn nén”. Đề tổng kết lại cơ chế hoạt động của vô thức, Freud đã vẽ ra một sơ đồ bộ máy tâm lý với hai thâm cấp tạo ra ý nghĩa.
Ông cho rằng: “Cấp thứ hai có quyền ưu tiên dé các sản phâm của mình luôn thấy con đường lọt vào ý thức được mở rộng. Trong khi ấy thì hoạt động của cấp thứ nhất là hoạt động vô thức, nhất thiết phải lên được cấp thứ hai mới có thể lọt vào ý thức, ở chỗ quá độ từ cấp thứ nhất lên cấp thứ hai có một bộ phận kiểm duyệt. Nó chỉ cho qua cái gi mà nó ưng, còn ngoài ra nó gạt lại hết” [18; tr. Mô hình nay không chi phân vùng hoạt động của các yếu tố thuộc cấu trúc tâm lý con người mà nó còn chỉ ra được mối quan hệ mật thiết giữa chúng.
Nó đồng thời cũng cho thấy sự phân chia rõ ràng của Freud rang những gì thuộc vào cấp thứ nhất tức vô thức thì không nằm trong cấp thứ hai, nếu thuộc vào cấp thứ hai thì nó sẽ trở thành một bộ phận của ý thức. Thời gian sau, khi các nghiên cứu được sửa đổi và bổ sung, Freud đã xác lập lại các khái niệm. Lúc này, các tang tâm trí cơ bản của con người được gọi với các khái niệm: Ý thức, Tiềm thức (hay tiền ý thức) và Vô thức. 17 Trong đó, ý thức (consciousness) mat đi vai trò quyết định đến sự tồn tại của con người theo kiêu “Tôi tư duy, vậy nên tôi tồn tại” (Descartes) đã đóng đinh trong những thé kỷ trước.
Freud va Phân tâm học đơn thuần coi ý thức như một yếu tố thuộc tâm trí. Sự xuất hiện của ý thức không mang tính chất tuyệt đối, nghĩa là nó có thé vắng mặt mà chang ảnh hưởng gi, bất ké cả chuyện sự thật là nó vẫn nằm trong mối quan hệ với các thành tố khác. Freud định nghĩa ý thức là “tất cả mọi tri giác đến từ bên ngoài (tri giác, cảm giác); đó cũng là tất cả những gì chúng ta gọi là cảm giác và tình cảm đến từ bên trong” [19; tr. Nói một cách đơn giản thì ý thức chính là những gì mà bản thân chúng ta có thể tự nhận biết được bao gồm cảm xúc, tư tưởng, tình cảm.
Dưới ý thức sẽ là tiền ý thức và vô thức. Vô thức (unconsciousness) thuộc về vị trí sâu nhất và cũng có xu hướng phức tạp nhất. Phân tâm học thời Freud đã lay vô thức làm đối tượng nghiên cứu chính, thậm chí các nhà nghiên cứu còn xác lập vị trí của nó là quan trọng nhất trong bộ máy tâm lý. Ban đầu Freud nhận định rằng vì ý thức của một biểu tượng không nhất thiết phải luôn hiện diện nên nó có thé biến mắt rồi lại xuất hiện theo các giai đoạn.
Những khoảnh khắc ý thức không tồn tại trong biểu tượng nhưng vẫn có thể xuất hiện ngược trở lại được gọi là trạng thái an tàng và đó đồng thời cũng là trang thái vô thức tồn tại. Tuy nhiên, sau khi đi vào phân tích nhiều giấc mơ cụ thể, của chính mình và bệnh nhân, Freud đã mở rộng khái niệm vô thức dựa theo cơ chế đồn nén - “những điều bị dồn nén, đối với chúng tôi, là nguyên mẫu của vô thức” [19; tr. Lúc này, vô thức được chia thành hai cấp độ chính: “các yếu tố tâm tri ân tàng nhưng có thé trở thành ý thức và các yếu tố tâm trí bị dồn nén, những yếu tố này - vì bị dồn nén và không có khả năng trở lại miền ý thức” [19; tr. Nói một cách dé hình dung thi vô thức có thé là tất cả những gì ân sâu dưới tâm trí của con người như cảm xúc, suy nghĩ, khát khao, ám ảnh.
Thế nhưng đây vẫn chưa phải là các dạng thức đầy đủ nhất của vô thức. Thời gian sau này, khi xem xét cái Tôi của các bệnh nhân, Freud nhận thấy, có những lực cản trong đó chống lại nhà trị liệu. Freud gọi vô thức trong chính cái Tôi là dạng thức thứ ba. Điều đặc biệt nhất về bản chất của vô thức thứ ba nằm ở chỗ chúng 18 không bị dồn nén.
Khi khang định sự tồn tại của dạng vô thức này, Freud quay ngược trở lại suy xét chính những nhận định về bản chất của vô thức trước đó, có vẻ chúng không còn đủ nữa. Mặc dù xem xét vô thức như một khái niệm đa nghĩa, khó khái quát nhưng Freud vẫn có ý đề cao vai trò của nó trong nghiên cứu tâm lý con người và phân tâm học. Trong mối quan hệ giữa ý thức, tiền ý thức và vô thức, nếu coi ý thức là cánh cửa mở toang, vô thức là cánh cửa đóng kín thì tiền ý thức (preconscious) chính là cánh cửa một nửa đóng một nửa mở. Thực chất, có thể hiểu tiền ý thức như một giai đoạn ẩn tàng của ý thức, nó là cái vô thức thứ nhất, nó chứa các yếu tố vô thức có thé trở thành ý thức.
Ví dụ như một ký ức tuôi thơ có thé trở nhanh chóng trở về chi sau những tác động tâm lý nào đó vì chúng đã có sẵn ở trong tiền ý thức. Ngoài mô hình bộ ba ý thức, vô thức và tiền ý thức, học thuyết Phân tâm học của Freud còn dé cập tới một mô hình nỗi tiếng khác, mang tinh cụ thé hơn về vô thức. Nó có hình dạng như một tảng băng trôi và trong đó, ý thức là phần nổi bên trên, vô thức là tất cả những gì chìm dưới nước với sự hợp thành của một bộ ba khác - Cai Siêu tôi (Superego), cai Tôi (Ego) và cái Nó (Id). Ba yếu tố này trở đi trở lại trong nghiên cứu của Freud với một tầm quan trọng không thể sao nhãng.
Nó là yếu tố cốt lõi và có thé coi như sự lý giải gần nhất cho tính xác thực của một đối tượng bao gồm cả hành động, ngôn ngữ. Freud cần nhiều bài luận dé có thé định nghĩa các yếu tố này nhưng về cơ bản, có thể hiểu ngắn gọn như sau: Cái Nó bao gồm tất cả những gì thuộc về bản năng với nguyên tắc hoạt động chính là khoái cảm. Nó có xu hướng muốn, cần và phải được thỏa mãn bằng cách này hay cách khác. Cái Siêu Tôi được coi như “cái tinh thy cao thượng trong con người (.) không phải là cái gì khác ngoài cái Tôi lý tưởng (.) ở đó tất cả những gì cha mẹ truyền đạt cho chúng ta được tóm lược” [19; tr.
Cái Siêu Tôi “đại diện cho tất cả những gì bó buộc về mặt đạo đức được thừa hưởng từ cha mẹ, từ lịch sử loài người, và cũng thông qua cái Lý tưởng của cái Tôi, cái Siêu Tôi cũng đại diện cho sự khát khao hướng tới sự hoàn thiện. Freud cho rằng, cái Siêu Tôi được sinh ra từ phức cảm Oedipe. Trong môi quan hệ với cái Nó, cái Siêu Tôi xuât 19 hiện trong vai trò là bộ phận chống lại mạnh mẽ các ham muốn và lựa chọn thỏa mãn. Cuối cùng, cái Tôi sẽ đứng ở giữa cái Nó và cái Siêu Tôi.