Chương 1, tác giả trình bày tổng quan về đề tài đang nghiên cứu thông qua lý do, tính cấp thiết để lựa chọn đề tài, mục tiêu, phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu. Những nội dung này, giúp ta có cái nhìn tổng quát về nội dung, quá trình hình thành đề tài, để tạo cơ sở cho việc tìm hiểu nghiên cứu sâu về các cơ sở lý thuyết liên quan trong các chương tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về động lực làm việc 2.1 Khái niệm về động lực làm việc Để tồn tại và phát triển con người cần phải tiến hành lao động. Động lực làm việc luôn gắn liền với một công việc cụ thể, một tổ chức, một môi trường làm việc cụ thể, không tồn tại động lực chung chung.
Như vậy phải hiểu rõ về công việc và môi trường làm việc thì mới có thể đưa ra các hàm ý quản trị nhằm tạo động lực cho người lao động. Năm 1973 Maier & Lawler đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = khả năng + động lực Như vậy để đạt được kết quả thực hiện công việc tốt cần phải quan tâm tới động lực và nâng cao khả năng của mỗi người. Muốn làm được điều đó ta cần phải biết động lực làm việc là gì? Động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực và say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động Theo Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2007), động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con người hành động và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố luôn thay đổi, khó nắm bắt.
Chúng được chia thành 3 loại yếu tố cơ bản đó là: + Loại 1: Những yếu tố thuộc về con người tức là những yếu tố xuất hiện trong chính bản thân con người gồm thúc đẩy con người làm việc bao gồm: Lợi ích của con người: Khi có sự thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần tức là con người nhận được lợi ích từ vật chất và tinh thần thì khi đó động lực tạo ra càng lớn. 7 Mục tiêu cá nhân: Là trạng thái mong đợi cần có và có thể có của cá nhân. Điều này có nghĩa mục tiêu cá nhân là cái đích mà cá nhân con người muốn vươn tới và qua đó sẽ thực hiện nhiều biện pháp để đạt được cá đích đề ra. Thái độ của cá nhân: Yếu tố này chịu ảnh hưởng nhiều của quan niệm xã hội và tác động của bạn bè,… nếu như cá nhân có thái độ tích cực đối với công việc thì sẽ hăng say với công việc, còn không thì ngược lại.
Khả năng – năng lực của cá nhân: Nó có thể làm tăng cường nếu cá nhân có khả năng trình độ để giải quyết công việc, nếu ngược lại sẽ làm cho cá nhân nản trí trong giải quyết công việc. Thâm niên, kinh nghiệm công tác: Người lao động có thâm niên lâu năm trong nghề thì có mong muốn nhận được lương cao hơn. Còn khi họ có kinh nghiệm công tác thì đòi hỏi mức tiền lương trả cho họ phải như thế nào cho phù hợp. Có như vậy tổ chức mới có thể khuyến khích được người lao động làm việc có hiệu quả.
+ Loại 2: Các nhân tố thuộc môi trường là những nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng đến người lao động. Nó bao gồm các nhân tố như: Văn hóa doanh nghiệp: Yếu tố này được định nghĩa như một hệ thống các giá trị các niềm tin và thói quen được chia sẻ trong phạm vị một tổ chức chính quy và tạo ra các chuẩn mực về hành vi trong doanh nghiệp. Các chính sách về nhân sự: Đây là chính sách mà doanh nghiệp áp dụng nhằm đáp ứng nhu cầu mục tiêu cá nhân của người lao động. Mà nhu cầu cá nhân là nhân tố bên trong quan trọng nhất thúc đẩy người lao động làm việc.
+ Loại 3: Các yếu tố thuộc về nội dung bản chất công việc là yếu tố chính quyết định ảnh hưởng đến thù lao lao động và mức tiền lương của người lao động trong tổ chức. Nó bao gồm các yếu tố như: 8 Tính ổn định và mức độ tự chủ của công việc: Nếu công việc có tính ổn định và mức độ tự chủ cao sẽ tác động đến kinh nghiệm và khả năng làm việc của người lao động yên tâm công tác và sẽ phát huy hết khả năng làm việc của mình. Mức độ khác nhau về nhiệm vụ, trách nhiệm: Mỗi công việc khác nhau sẽ có yêu cầu về ý thức trách nhiệm, nhiệm vụ khác nhau: bao gồm trách nhiệm về tiền, tài sản, trách nhiệm về người lao động do mình quản lý như thế nào?. Sự phức tạp của công việc: Đây là sự căng thẳng trong công việc, sự hao phí về sức lao động cũng như hao phí về thể lực và trí lực của người lao động mà công việc đó đòi hỏi họ phải có một sự cố gắng trong quá trình thực hiện công việc.
Sự hấp dẫn và thích thú: Trong quá trình làm việc nếu công việc có sức hấp dẫn đối với người lao động sẽ kích thích tinh thần và khả năng làm việc của người lao động, họ sẽ làm việc với năng suất cao và ngược lại. - Theo Koontz & cộng sự (2004), “Động lực làm việc là những yếu tố thúc đẩy con người thực hiện công việc. Động lực là những phương tiện mà nhờ chúng các nhu cầu mâu thuẫn nhau có thể được điều hòa hoặc một nhu cầu được đề cao hơn để sao cho chúng được ưu tiên hơn các nhu cầu khác”. Như vậy, có thể coi vấn đề tạo động lực làm việc là vấn đề thuộc về sự chủ động của tổ chức.
Tổ chức cần phải tìm ra những yếu tố tạo động lực nhằm kích thích tinh thần hăng say làm việc của người lao động, phải tạo ra môi trường làm việc, môi trường giao tiếp như thế nào để người lao động cảm thấy thoải mái nhất và có động lực làm việc cao nhất nhằm đạt được mục tiêu dài hạn.2 Vai trò của tạo động lực Tạo động lực làm việc đóng vai trò rất quan trọng công tác quản trị nguồn nhân lực, trong việc tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào không đổi. Động lực làm việc như sức mạnh vô hình từ bên trong con người giúp họ làm việc có trách nhiệm, tự nguyện và hăng say hoàn thành công việc hiệu quả. Tạo động lực làm việc không mang lại giá trị ngay tức thời, mất nhiều thời gian, chi phí nhưng 9 nếu doanh nghiệp kiên trì thực hiện và duy trì công tác tạo động lực thì ắt sẽ mang lại nhiều ý nghĩa, lợi ích không chỉ đối với người lao động, doanh nghiệp mà còn đối với xã hội.3 Mối quan hệ giữa động lực làm việc với lợi ích của người lao động Lợi ích là mức độ thỏa mãn của nhu cầu. Nếu không có nhu cầu thì cũng sẽ không có những hành động để thỏa mãn nhu cầu đó và cũng không có lợi ích được tạo ra.
Khi đứng trước một nhu cầu về vật chất hay tinh thần, con người sẽ nỗ lực làm việc, nhu cầu càng cao động lực tạo ra càng lớn tức là lợi ích đạt được càng nhiều. Trong các loại lợi ích, lợi ích cá nhân của từng người cụ thể dễ nhận biết hơn cả, vì nó đáp ứng được ngay các nhu cầu cá nhân của bản thân người đó. Lợi ích tập thể khó nhận biết hơn. Điều đó giải thích tại sao hành động của mỗi con người cụ thể lại thường bao giờ cũng diễn ra trước hết nhằm thực hiện lợi ích của bản thân mình.
Trong số các lợi ích cá nhân thì lợi ích kinh tế đóng vai trò quan trọng nhất, vì chúng trực tiếp đáp ứng được nhu cầu bức thiết, sống còn của bản thân con người. Vì vậy, coi trọng lợi ích kinh tế sử dụng chúng để khơi dậy và phát huy động lực của người lao động là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, khi một chủ thể đã đạt được những nhu cầu về vật chất, thì lợi ích về tinh thần lại trở thành mục đích của hoạt động. Nếu lợi ích vật chất hướng vào thỏa mãn các nhu cầu về một cuộc sống ấm no đầy đủ thì lợi ích tinh thần lại trở thành hướng vào xây dựng nhân cách và hạnh phúc cho con người.
Với ý nghĩa đó, trong giai đoạn hiện nay, khi thực hiện tạo động lực cho người lao động thì phải chú trọng đến lợi ích kinh tế và tâm lý xã hội. Lợi ích chỉ có ý nghĩa khi đặt trong mối quan hệ với nhu cầu, ngoài mối quan hệ đó thì lợi ích không còn là lợi ích nữa, ví dụ như người lao động mong muốn làm việc cho một công ty nào đó, đó là lợi ích của người lao động nhưng công ty đó lại không có nhu cầu cần tuyển. Như vậy, nhu cầu của con người tạo động cơ thúc đẩy họ tham gia hoạt động lao 10 động, song chính lợi ích của họ mới là động lực thúc đẩy họ làm việc hiệu quả cao.4 Các phương pháp tạo động lực làm việc - Tuyển chọn và bố trí lao động phù hợp với yêu cầu công việc: Công tác tuyển chọn và bố trí lao động là việc dựa vào các yêu cầu của công việc để tìm và bố trí những người lao động vào làm những công việc đó. Đây là những hoạt động đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo động lực lao động của tổ chức.
Việc tìm được người lao động phù hợp với yêu cầu của công việc thì việc thực hiện những công việc đó sẽ dễ dàng và đạt được hiệu quả cao. - Cung cấp các điều kiện cần thiết cho công việc: Việc cung cấp các điều kiện cần thiết cho công việc chính là việc tổ chức và phục vụ tốt nơi làm việc. Nơi làm việc là phần diện tích và không gian, mà trong đó được trang bị các phương tiện vật chất kỹ thuật để người lao động hoàn thành công việc của mình. Việc thiết kế nơi làm việc với các trang thiết bị cần thiết và sắp xếp, bố trí chúng một cách hợp lý và khoa học để thực hiện một cách có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất của nơi làm việc.
- Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng, kiến thức cho người lao động.