Chương 1: Giới thiệu đề tài Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đưa ra câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu. Trong đó phương pháp nghiên cứu được chọn là phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng sẽ được áp dụng theo từng giai đoạn nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày cơ sở lý thuyết, định nghĩa các khái niệm thuộc tâm lý, nhận thức và quyết định tham gia bảo hiểm y tế của hộ gia đình. Một số nghiên cứu trước được lược khảo.
Trên cơ sở đó các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu được đề xuất. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày thiết kế nghiên cứu, cách chọn mẫu, các thước đo để thu thập dữ liệu, cách thức xử lý dữ liệu bao gồm: Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính đa biến. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả mẫu nghiên cứu chính thức, đánh giá độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá, phân tích tương quan, phân tích hồi quy tuyến tính đa biến và thảo luận kết quả nghiên cứu. -6- Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu.
Từ đó, đưa ra một số hàm ý cho nhà quản lý nhằm gia tăng quyết định tham gia bảo hiểm xã hội của hộ gia đình. Nêu những hạn chế của nghiên cứu, đồng thời đưa ra hướng nghiên cứu kế tiếp từ nghiên cứu này. -7- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày về cơ sở lý thuyết và một số khái niệm nghiên cứu trong mô hình lý thuyết. Từ lý thuyết nền và nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, luận văn xây dựng mô hình lý thuyết và phát triển giả thuyết nghiên cứu.
Khái quát về Bảo hiểm ytế 2. Kháiniệm Bảo hiểm y tế được định nghĩa là một nhóm người đóng góp tài chính vào một quỹ chung, thường do một bên thứ ba nắm giữ. Quỹ này sau đó được sử dụng để thanh toán tất cả hoặc một phần chi phí được bao trả bởi gói quyền lợi của chủ hợp đồng. Rút kinh nghiệm các nước trên thế giới, ngày 15/8/1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 299/HĐBT ban hành Điều lệ BHYT, khai sinh chính sách BHYT.
Bảo hiểm y tế tại Việt Nam, Bảo hiểm y tế Việt Nam chính thức ra đời, được coi là loại hình bảo hiểm đặc biệt, là chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức mang ý nghĩa cộng đồng sâu sắc. Theo Luật Bảo hiểm y tế (2008): định nghĩa bảo hiểm y tế (BHYT) là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện. Theo đó, BHYT hướng đến sự chia sẻ rủi ro cũng như gánh nặng tài chính gia đình trong việc khám chữa bệnh cho những người tham gia bảo hiểm. Mỗi người tham gia được cấp một thẻ BHYT và thẻ đó được sử dụng làm căn cứ cho quyền lợi về BHYT.
Tỷ lệ hưởng BHYT được xác định theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi của người tham gia. Chi phí khám chữa bệnh do quỹ bảo hiểm và người tham gia BHYT cùng chi trả. Ở đây cũng cần phân biệt hai hình thức BHYT, đó là BHYT nhà nước và BHYT tư nhân. BHYT nhà nước là hình thức bảo hiểm được nhà nước bảo trợ một phần hoặc toàn bộ.
Mô hình này đề cao tính cộng đồng, đoàn kết tương trợ, hỗ trợ lẫn nhau cùng chia sẽ rủi ro, nó có nhiệm vụ giữ gìn, cải thiện tình trạng sức khỏe của người tham gia BHYT và không mang tính chất kinh doanh như các doanh nghiệp, công ty. Trong khi đó, BHYT tư nhân nằm ngoài hệ thống quản lý của ASXH. Mô hình này được vận hành bởi tổ chức hoặc cá nhân theo đuổi mục tiêu lợi nhuận với mức phí bảo -8- hiểm được áp dụng theo sự đánh giá mức độ rủi ro bệnh tật. Xét trên tổng thể nền kinh tế quốc dân thì Bảo hiểm y tế là công cụ trong quá trình phân phối lại sau công cụ thuế góp phần đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội.
BHYT toàn dân là mục tiêu đang hướng tới của cả hệ thống chính trị xã hội tại Việt Nam, hiện nay BHYT hộ gia đình là chính sách thực hiện để hướng tới bảo hiểm y tế toàn dân. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015: Bảo hiểm y tế toàn dân là việc mọi đối tượng được quy định tại Luật này tham gia. Bảo hiểm y tế toàn dân hướng tới mục tiêu bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe, chia sẻ giữa người khỏe mạnh và người ốm đau, người giàu với người nghèo, người trong độ tuổi lao động với trẻ em và người cao tuổi. Do đó, toàn dân được hiểu là toàn bộ người dân của một quốc gia tham gia bảo hiểm y tế trong hệ thống bảo hiểm y tế của quốc gia đó hoặc mạng lưới quốc gia bao phủ toàn dân của cả nước.
Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đặt ra mục tiêu hướng tới thực hiện bao phủ chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân; mọi người dân đều được quản lý, chăm sóc sức khỏe; được bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tham gia BHYT và thụ hưởng các dịch vụ y tế. Trong đó, mục tiêu phấn đấu năm 2025, tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 95% dân số, năm 2030 đạt trên 95% dân số tham gia BHYT. Sự cần thiết của BHYT Con người trong cuộc sống và quá trình lao động thường xuyên chịu tác động và ảnh hưởng của môi trường xung quanh; tác động này bao gồm các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Trong thời đại công nghiệp hóa, con người bị ảnh hưởng bởi những thứ do chính mình gây ra; nghĩa là sản xuất công nghiệp đã phá vỡ môi trường sinh thái, từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe con người, Vì vậy, ốm đau, bệnh tật là điều khó tránh.
Hiện nay, nhu cầu được chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ sức khoẻ là một tất yếu của tất cả người dân trong cộng đồng xã hội. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng lên. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, khi ốm đau,bệnh -9- tật không phải ai, người dân nào cũng đủ khả năng để trang trải các khoản chi phí khám chữa bệnh, đặc biệt là những người nghèo, hộ nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn.Vìvậy,Chính phủ đã xác định BHYT là một trong những loại hình hoạt động có bản chất nhân văn, nhân đạo cần phải được triển khai, đặc biệt khi chi phí cho khám chữa bệnh của các bệnh viên tư và công hiện nay ngày một tăng cao. Xu hướng và cấu trúc chi tiêu y tế (Nguồn: WHO, 2013) Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, dịch vụ khám chữa bệnh sẽ đi kèm với nhiều chi phí đắt đỏ, có thể nói là cao nhất trong các dịch vụ xã hội.
Điều này dẫn đến nhu cầu về một giải pháp để giải quyết vấn đề trên, ra đời trên cơ sở đó. Vì vậy, chỉ có BHYT mới đáp ứng được tính chất huy động sự đóng góp của đông đảo những người khỏe mạnh để bù đắp cho số ít người ốm đau, giúp gia đình vơi đi khó khăn. Việt Nam trong một thời gian dài đã sử dụng ngân sách để lo việc chữa bệnh cho người dân. Đến nay khả năng đó rất hạn chế vì nhu cầu chữa bệnh ngày càng tăng, chi phí y tế ngày càng đắt, trong khi đó cơ sở vật chất ngành y tế ngày càng giảm sút, cần phải sửa chữa cũng như cần có thêm các phương tiện để điều trị hữu hiệu.
Để khắc phục được điều này, thì cần phải sớm tổ chức thực hiện và tiến tới toàn dân. Từ những vấn đề trên cho thấy ra đời là sự cần thiết vì nó đáp ứng được nguyện vọng của đại đa số người dân trong xã hội. Bản chất Bảo hiểm y tế trước hết là một nội dung cơ bản của Bảo hiểm xã hội - một trong những bộ phận thiết yếu của hệ thống an sinh xã hội hay còn gọi là hệ thống an sinh xã hội. Cùng với hệ thống cung ứng (hay còn gọi là chế độ xã hội ưu đãi, chế độ bao cấp) và hệ thống cứu trợ xã hội, hoạt động của bảo hiểm y tế nói riêng và hoạt động của bảo hiểm xã hội nói chung đã trở thành hiện thực.
Là nền tảng vững chắc cho sự ổn định xã hội. Chính vì vai trò sống còn của BHXH như vậy nên quá trình hoạt động của BHXH luôn được nhà nước tổ chức theo hệ thống pháp luật về BHXH. Đó cũng là cơ sở cần thiết để phân biệt loại hình bảo hiểm y tế này với bảo hiểm sức khỏe trong bảo hiểm thương mại. BHYT được xem là chính sách quan trọng trong hệ thống ASXH liên quan đến quyền lợi chăm sóc sức khoẻ, đảm bảo an toàn và chất lượng cuộc sống trọn đời của người tham gia.
BHYT được các tổ chức quốc tế rất quan tâm trong các chương trình hành động vì sự phát triển con người như tổ chức lao động quốc tế (ILO), tổ chức y tế thế giới (WHO), hay tổ chức phát triển và hợp tác quốc tế (OECD).Theo ILO, bảo hiểm y tế là sự bảo vệ xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua các biện pháp công nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội. (WHO) Bảo hiểm y tế là loại hình bảo hiểm phi thương mại, phi lợi nhuận, được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ quyền con người. Bảo hiểm sức khỏe là một cách để phân bổ rủi ro tài chính liên quan đến những thay đổi trong chi phí chăm sóc sức khỏe cá nhân bằng cách tổng hợp chi phí theo thời gian thông qua hình thức trả trước (OECD,2004). Chức năng của tài chính y tế (Nguồn: Kutzin, 2001) -11- BHYT ra đời trên cơ sở chia sẻ rủi ro.
Do vậy, tính chất cộng đồng xã hội tương ái tương thân, đùm bọc lẫn nhau được đặt lên hàng đầu. Ngoài ra để phát triển hệ thống y tế, chia bớt gánh nặng về bệnh tật của bản thân mỗi người và xã hội thì sự ra đời của chính sách là bức thiết.