CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ FDI VÀ THU HÚT FDI 1.1 Khái niệm về đầu tư, đầu tư trực tiếp - Theo Luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam thì Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. - Đầu tư là việc bỏ tiền vốn để mua các công cụ tài chính hoặc tài sản khác để có được lợi nhuận. Đầu tư có liên quan đến tiết kiệm hay trì hoãn tiêu dùng. - Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.2 Khái niệm FDI - Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund, IMF, 1977,1993), Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (Foreign Direct Investment, FDI) là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia khác.
Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI. - Như vậy, FDI sẽ tạo thành một mối quan hệ lâu dài giữa một công ty chủ quản (người đầu tư trực tiếp) và một công ty phụ thuộc (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) đặt tại một quốc gia khác với quốc gia của công ty chủ quản. Công ty chủ quản không nhất thiết phải kiểm soát toàn bộ hoạt động của công ty phụ thuộc (trong trường hợp công ty chủ quản không chiếm đa số cổ phiếu của công ty phụ thuộc) và phần FDI chỉ tính trong phạm vi tỉ lệ sở hữu của công ty chủ quản đối với công ty phụ thuộc. - Khái niệm của OECD (1996): Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi Trang 9 Luan van nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư, mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có, tham gia vào một doanh nghiệp mới,cấp tín dụng dài hạn (trên 5 năm), và quyền kiểm soát: nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên.
- Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO, 1996) đưa ra định nghĩa như sau về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
Ở Điều 3 của Luật đầu tư Việt Nam được Quốc Hội thông qua 11/2005 đã nêu rõ: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”.3 Thu hút FDI Nếu FDI là một hình thức đầu tư quốc tế, thì thu hút FDI là hoạt động vận động khuyến khích và chuẩn bị điều kiện để thực hiện FDI. Trên cơ sở khái niệm này có một số điểm chính về thu hút FDI như sau: - Thu hút FDI là hoạt động để vận động các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào một quốc gia hoặc một vùng hay một tỉnh. của quốc gia đó. - Việc thu hút này phải gồm rất nhiều biện pháp và phải có những bước đi thích hợp cũng như có rất nhiều chủ thể tham gia vào quá trình đó, từ công việc của các cá nhân, các tổ chức, các doanh nghiệp, chính quyền địa phương và chính quyền trung ương.
- Thu hút FDI có thể dưới các hình thức chủ động và bị động. - Các hình thức thu hút FDI chủ động xảy ra khi các đơn vị của quốc gia đang hoạt động trong việc tìm kiếm đối tác kinh doanh; thuyết phục các nhà đầu tư đầu tư vào Việt Nam và các địa phương; xây dựng hành lang pháp lý để khuyến Trang 10 Luan van khích dòng vốn FDI vào các ngành công nghiệp, lĩnh vực và các ngành kinh tế có nhu cầu thu hút đầu tư. - Các hình thức thu hút thụ động khác nhau từ một thực thể chủ động thành chờ đợi thụ động các đối tác, sau đó giới thiệu và đề nghị các nhà đầu tư về những thuận lợi và điểm đến để giúp họ quyết định nơi để đầu tư vào.3 Các hình thức FDI FDI có thể được phân loại dựa trên quan điểm của nhà đầu tư (hoặc nước đi đầu tư) hoặc của nước sở tại. Từ góc nhìn của các nhà đầu tư, Caves (1971) FDI được chia thành 3 loại: - Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau.
- Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác. - Công ty đa quốc gia “đa chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc. - Theo Helpman (1984) chỉ ra rằng các công ty đa quốc gia có mục đích tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu chi phí sản xuất như vận tải, thuế. vì vậy, họ sẽ chia hoạt động sản xuất ở nhiều nước trên thế giới.
Ở giai đoạn sản xuất cần rất nhiều nhân lực có tay nghề, các hoạt động sản xuất được tổ chức tại các quốc gia có chi phí lao động thấp. Trong trường hợp này, các quốc gia này sẽ nhập khẩu trung gian hàng hóa như máy móc từ các công ty đa quốc gia và xuất khẩu sản phẩm đã hoàn thành. Các hình thức FDI nêu trên được gọi là FDI theo chiều dọc. Với quan điểm đầu tư - nước tiếp nhận FDI có thể được phân loại thành: FDI thay thế nhập khẩu, FDI tăng xuất khẩu và FDI bằng nỗ lực của chính phủ.
FDI thay thế nhập khẩu liên quan đến sản xuất sản phẩm được nhập khẩu từ nước đi đầu tư. Việc này làm giảm nhập khẩu của các quốc gia và giảm xuất khẩu của các nước đầu tư. Hình thức này phụ thuộc vào kích thước của thị trường đầu tư của nước tiếp nhận, chi phí vận chuyển, và các rào cản thương mại. Trang 11 Luan van Hình thức thứ hai được khuyến khích vì mong muốn tìm kiếm đầu vào mới cho sản xuất như nguyên vật liệu và các sản phẩm trung gian.
FDI cũng được phân loại dựa trên cách mở rộng khai thác ưu điểm của đầu tư tại nước tiếp nhận để tăng doanh thu đầu tư. Bên cạnh đó, FDI tìm kiếm cho nguồn lao động giá rẻ tại nước tiếp nhận để giảm chi phí sản xuất. Mở rộng FDI bị ảnh hưởng bởi lợi thế của các công ty hoạt động trong nước của các nhà đầu tu như: quy mô doanh nghiệp, tập trung nghiên cứu và phát triển (R&D) và khả năng sinh lợi của lợi thế công nghệ. FDI bằng nỗ lực của chính phủ: là sự trợ cấp đầu tư theo quy định của nước sở tại, tạo công ăn việc làm, rút ngắn sự chênh lệch giữa các khu vực tiếp nhận, cũng như giảm thâm hụt cán cân thanh toán (UNCTAD, 2002).
Theo Luật đầu tư của Việt Nam, có các hình thức đầu tư trực tiếp như sau: Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài; Doanh nghiệp liên doanh (A Joint Venture Enterpise) Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT, PPP. Góp vốn, mua cổ phần và sáp nhập, mua lại công ty.4 Tác động của FDI đối với nước tiếp nhận đầu tư 1.1 Tác động tích cực Là nguồn vốn hỗ trợ cho phát triển FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là đối với các nước kém phát triển. Hầu hết các nước kém phát triển đều rơi vào cái “vòng luẩn quẩn”đó là: Thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và rồi hậu quả lại là thu nhập thấp. FDI là một cú hích phá vỡ một mắt xích trong cái “vòng luẩn quẩn” này.
Vốn đầu tư là cơ sở tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động. Từ đó tạo tiền đề tăng thu nhập, tăng tích lũy cho sự phát triển của xã hội. Đặc biệt là FDI, nguồn quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho các nước nhận đầu tư. Theo mô hình lý thuyết “hai lỗ hổng” của Trang 12 Luan van Cherery và Stront có hai cản trở chính cho sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia đó là: Tiết kiệm không đủ đáp ứng cho nhu cầu đầu tư được gọi là “lỗ hổng tiết kiệm”.Và thu nhập của hoạt động xuất khẩu không đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu được gọi là “lỗ hổng thương mại”.
Hầu hết các nước kém phát triển, hai lỗ hổng trên rất lớn. Vì vậy FDI góp phần làm tăng khả năng cạnh tranhvà mở rộng khả năng xuất khẩu của nước nhận đầu tư, thu một phần lợi nhuận từ các công ty nước ngoài, thu ngoại tệ từ các hoạt động dịch vụ cho FDI. Chuyển giao công nghệ Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ khoa học hiện đại, kỹ xảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến. Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ đầu tư không chỉ vào nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu.
mà còn mang theo tri thức khoa học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị thường. Do vậy, về lâu dài, đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư. FDI có thể thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao. Vì thế nó có tác dụng to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, dịch chuyển cơ cấu kinh tế của các nước nhận đầu tư.