chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 sẽ nghiên cứu trình bày những nội dung cơ bản về các lý thuyết liên quan đến các khái niệm làm nền tảng cho nghiên cứu này, bao gồm các khái niệm: Ngành Bảo Hiểm Nhân Thọ, các hình thức khích lệ nhân viên cũng như lực lượng Quản Lý Cấp Trung, giữ chân đội ngũ Quản Lý Cấp Trung, mối liên hệ giữa việc khích lệ nhân viên và sự gắn kết của nhân viên với Tổ Chức, mối liên hệ giữa sự gắn kết và ý định ở lại với Tổ Chức của lực lượng Quản Lý Cấp Trung và các mối liên hệ giữa các khái niệm này. Từ đó xây dựng mô hình phục vụ cho nghiên cứu và đề ra các giả thuyết. QUẢN LÝ CẤP TRUNG: 1.1 Đối tượng Quản Lý Cấp Trung: Để làm rõ Quản Lý Cấp Trung là gì, trước tiên, ta cần phải định nghĩa đối tượng “Quản Lý”.
Theo Bournois và Livian [15] trong nghiên cứu cho một dự án được khởi sướng năm 1992 bởi Tổ Chức “Human Capital and Mobility Programme” ở Bussels – Bỉ, đã chỉ ra các đặc điểm để nhận dạng Quản Lý Cấp Trung như sau: là đối tượng có các đặc tính bao gồm (1) có kinh nghiệm và kiến thức ở một mức độ nhất định, (2) được trả một mức lương tương xứng, (3) làm việc thiên về trí tuệ, (4) nhận được sự ủy quyền từ lãnh đạo cấp cao, và (5) chịu trách nhiệm quản lý những nhân viên khác. Trong thực tế, 4 đặc tính đầu tiên có thể được dùng để miêu tả rất nhiều vị trí nhân sự chủ chốt hoặc chuyên gia về mặt kỹ thuật trong Tổ Chức. Chỉ khi có sự xuất hiện của đặc tính thứ 5 về “việc chịu trách nhiệm trên việc làm của người nhân viên khác” đi kèm với 4 yếu tố đầu thì nhân sự này mới được xem là một người Quản Lý[15]. Cũng trong khung định nghĩa này, Viện Quản Lý “Management Charter Initiative of Europe’s Institude of Management” đã chỉ ra những cấp bậc quản lý trong Tổ Chức như sau: - Quản Lý Cấp Cao 7 - Quản Lý Cấp Trung - Quản Lý Cấp Cơ sở - Giám sát.
Theo định nghĩa của Từ điển kinh doanh (http://www.com/definition/middle-manager.html) thì Quản Lý Cấp Trung là: “Nhân viên của một Tổ Chức hoặc doanh nghiệp, và tham gia vào ít nhất một cấp độ quản lý, đồng thời, phải báo cáo cho các nhà quản lý ở cấp độ cao hơn trong Tổ Chức. Những nhiệm vụ của một người quản lý trung thường bao gồm việc thực hiện các chỉ thị chiến lược của các nhà quản lý cấp cao ở cấp độ hoạt động, giám sát, quản lý cấp dưới và nhân viên để đảm bảo hoạt động trơn tru của các doanh nghiệp. Hà Văn Hội[3]:Quản Lý Cấp Trung bao gồm những nhà quản trị trung gian chỉ đạo việc thực hành đường lối do nhà quản trị cấp điều hành đề ra cho một ngành chuyên môn của Tổ Chức. Chỉ đạo các hoạt động chính trong một ngành chuyên môn nhất định.
Quản trị cấp trung gọi là nhà quản trị chấp hành.N [46] định nghĩa về khái niệm QLCT là một dãy các cấp bậc từ 2 bậc bên dưới cấp quản lý cao nhất trong Tổ Chức đến cho đến cao hơn vị trí Chuyên Viên hoặc Nhân viên 1 cấp. Do vậy, QLCT không chỉ có 1 cấp bậc/vị tri trong Tổ Chức, mà bao gồm một dãy các cấp bậc từ Giám Sát cơ sở cho đến cấp quản lý điều hành [34],[15]. Định nghĩa về Quản Lý Cấp Trung của Huy, Q.N [43] là vô cùng phù hợp với thực trạng thực tế ở các Công Ty BHNT. Các chức danh hoặc cấp bậc chung ở các Công Ty Bảo Hiểm thường bao gồm: 8 Hình 1.1 Các cấp bậc thường có trong một Công Ty BHNT tại Việt Nam Định nghĩa Quản Lý Cấp Trung trong bài nghiên cứu này là nhân viên làm việc toàn thời gian, là người xử lý được nhiều mục công việc, có ảnh hưởng tới các cá nhân khác, và là quản lý trực tiếp của một hoặc một nhóm người, có cấp bậc công việc hoặc chức danh từ Giám Sát cấp cao (Senior Supervisor) đến Trưởng phòng cấp cao (Senior Manager).2 Vai trò của Quản Lý Cấp Trung đối với doanh nghiệp: Vai trò của Quản Lý Cấp Trung hiện đại chính là trở thành “nguồn” thông tin vô cùng hữu ích dành cho các cấp quản lý cấp cao hơn, và là “nguồn” kinh nghiệm và kiến thức của các quản lý cấp cơ sở và nhân viên[91] Tầng lớp Quản Lý Cấp Trung trong Tổ Chức ngày càng lớn mạnh lên nhanh chóng (Frohman và Johnson.
Theo Nonaka and Takeuchi (1995)[79], lực lượng Quản Lý Cấp Trung, được xem là "kỹ sư tri thức", chính là nguồn chính tạo ra tri thức cho Tổ Chức. Họ có trách nhiệm tổng hợp kiến thức ngầm của nhóm quản lý cấp cao lẫn quản lý cấp cơ sở và nhân viên và chuyển hóa nó thành kiến thức rõ ràng (explicit knowledge). Họ cũng có thể tạo ra một liên kết các kiến thức về các bộ phận chức năng khác nhau trong cơ cấu Tổ Chức. Vì thế, Quản Lý Cấp Trung đóng một vai trò trung tâm trong việc 9 thực hiện quản lý tri thức và kinh nghiệm vận hành các công việc đặc thù của Tổ Chức.
Qua đó, mục đích của Quản Lý Cấp Trung không phải chỉ là một đầu mối kết nối và luân chuyển kiến thức, thông tin mới mới giữa tầng lớp quản lý cấp cao và quản lý cấp cơ sở, mà mục đích của họ còn là để đạt được thành công trong việc thực hiện quản lý tri thức[56]. Ở khía cạnh chiến lược, Quản Lý Cấp Trung thường kết hợp vai trò chiến lược của họ chặt chẽ với những quan điểm truyền thống về vai trò là người thực hiện các chiến lược truyền thông và vai trò liên kết giữa cấp dưới và cấp quản lý. Vì lực lượng Quản Lý Cấp Trung đóng vai trò trung gian giữa quản lý cấp cao và quản lý cấp cơ sở. Họ phải báo cáo trực tiếp với quản lý cấp cao về các vấn đề thuộc bộ phận của họ, và họ dành nhiều thời gian hơn để thực hiện chức năng Tổ Chức và định hướng hơn so với các nhà quản lý cấp cao.
Vai trò Quản Lý Cấp Trung bao gồm: (1) Thực hiện kế hoạch Tổ Chức trong sự phù hợp với chính sách của Công Ty và các mục tiêu được đặt ra bởi quản lý cấp cao [91]; (2) Phổ biến thông tin, chính sách quản lý từ quản lý cấp cao xuống cho quản lý cấp cơ sở và nhân viên. Đồng thời, đảm bảo kết quả hoạt động của bộ phận dưới quyền quản lý của họ phù hợp và theo sát chiến lược chung của Công Ty; (3) Quan trọng hơn hết là, họ cần phải tạo cảm hứng và hướng dẫn cho các nhà quản lý cấp thấp hơn để hỗ trợ họ trong việc cải thiện hiệu suất và hoàn thành các mục tiêu kinh doanh. Quản Lý Cấp Trung cũng có thể giao tiếp và tác động lên việc đưa ra chiến lược của nhóm quản lý cấp cao bằng cách đưa ra những gợi ý và phản hồi cho các nhà quản lý cấp cao. Bởi vì Quản Lý Cấp Trung là tham gia nhiều hơn trong các hoạt động hàng ngày của Công Ty, họ có thể cung cấp thông tin có giá trị cho các nhà quản lý cấp cao, giúp tầm nhìn chiến lược trở nên rộng hơn.2 CÁC YẾU TỐ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC GIỮ CHÂN NHÂN VIÊN: 10 1.1 Nhu cầu của con người: Như đã đề cập đến ở phần trên, để quản lý đối tượng này một cách hiệu quả thì phải hiểu được nhu cầu của họ.
Trong phạm vi của Luận Văn này, tác giả sẽ dựa vào lý thuyết về Tháp nhu cầu đã được định nghĩa của Maslow. Maslow (1943) tìm ra rằng nhu cầu của con người được phân chia theo một trật tự phân cấp, và các nhu cầu này có thể chia thành hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu cấp cao. Các nhu cầu cơ bản bao gồm các nhu cầu liên quan đến sinh lý và tâm lý của con người. Ví dụ như: thức ăn, nước uống, ngủ nghỉ; tình cảm, sự an toàn, và lòng tự trọng.
Những nhu cầu cơ bản này còn được gọi là "nhu cầu thiếu hụt", bởi nếu một người bình thường chưa tự đáp ứng được cho bản thân họ những nhu cầu này, thì người ấy sẽ luôn cố gắng để thỏa mãn được nhu cầu, bù đắp cho sự thiếu hụt đó. Nhu cầu cao cấp (hay còn gọi là “nhu cầu tồn tại” hoặc “nhu cầu phát triển”) bao gồm sự công bằng, lòng tốt, vẻ đẹp, trật tự, sự thống nhất,… Cũng trong lý thuyết của Maslow thì: những nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ. Ở thời điểm hiện tại, tháp nhu cầu của Maslow vẫn là thuyết được sử dụng khá rộng rãi và áp dụng khá phổ biến trong rất nhiều lĩnh vực liên quan đến con người.1 Tháp nhu cầu của Maslow 11 Theo Maslow, sau khi các nhu cầu thấp cấp được thỏa mãn, các nhu cầu cấp cao sẽ trở thành động lực cho mọi hành vi của con người. Việc biết được nhu cầu của nhân viên đang thuộc bậc nào của kim tự tháp sẽ giúp Lãnh đạo và Công Ty xác định động lực làm việc của họ một cách hiệu quả.
Ví dụ, việc tạo động lực thúc đẩy cho một nhân viên thuộc tầng lớp Quản Lý Cấp Trung với mức lương tương đối cao hơn so với mặt bằng chung của nhân viên bình thường sẽ phải chú ý tập trung vào các nhu cầu cấp cao hơn là các nhu cầu cơ bản.2 Các hình thức khích lệ nhân viên: Một Tổ Chức thành công là một Tổ Chức có thể truyền được cảm hứng cống hiến và phát triển cho người lao động. Và ở một mức độ nào đó, để tạo được sự hăng hái làm việc cho nhân viên, Tổ Chức phải tạo được động lực để cho nhân viên nỗ lực làm việc tốt hơn. Tuy nhiên, sẽ có rất nhiều cách khác nhau để khích lệ và thúc đẩy nhân viên, và ứng với mỗi cách sẽ có những khó khăn khác nhau, mỗi tuýp nhân viên sẽ có một nguồn động lực làm việc khác nhau và nguồn động lực của họ cũng dựa trên nền tảng cá nhân của bản thân họ. Nghiên cứu trước đây gợi ý một số yếu tố đóng vai trò then chốt trong việc giữ chân nhân viên của Cappelli[19] bao gồm: cơ hội nghề nghiệp, môi trường làm việc, cân bằng cuộc sống công việc, sự chính trực của Tổ Chức, chính sách nghỉ phép và hình ảnh Tổ Chức.