Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 123doc 5 Chương 2: Cơ sở lý luận về động viên và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Hàm ý giải pháp Tài liệu tham khảo Phụ lục 123doc 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG VIÊN Trong chương 2, tác giả trình bày một số khái niệm cơ bản về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, động viên nhân viên, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tác giả liệt kê những lý thuyết liên quan đến động viên và những liên quan liên quan. Từ cơ sở lý thuyết đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu ban đầu và các giả thuyết cho đề tài.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Nguồn nhân lực Khái niệm “nguồn nhân lực” được sử dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước Châu Á, và giờ đây khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan điểm mới về vai trò, vị trí của con người trong sự phát triển. Tổ chức UNESCO cho rằng: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.
Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực như sau: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân có khả năng tham gia vào nền sản xuất xã hội”. Ở nước ta, khái niệm này được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường (Đại hội lần thứ VI của Đảng, tháng 12 năm 1986). Theo nghĩa tương đối hẹp, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao động. Do vậy, nó có thể lượng hóa được là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định, đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động hay còn gọi là lực lượng lao động.
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực được hiểu như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động tổ chức để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội bên cạnh 123doc 7 nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính. Chính vì vậy, nguồn nhân lực được nghiên cứu trên giác độ số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô, tốc độ tăng và sự phân bố nguồn nhân lực theo khu vực, vùng lãnh thổ. Chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh về trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ của người lao động.
Tóm lại, trí tuệ, thể lực và đạo đức là những yếu tố quan trọng nhất, quyết định chất lượng và sức mạnh của nguồn nhân lực.2 Phát triển nguồn nhân lực Từ khái niệm về nguồn nhân lực cho thấy muốn phát triển kinh tế xã hội thì ngoài yếu tố công nghệ, vốn… phải dựa vào yếu tố nguồn nhân lực. Song, phát triển đất nước ở bất kỳ thời kỳ nào cũng không thể dựa vào nguồn nhân lực chung chung mà cần phải có nguồn nhân lực phát triển. Hay nói cách khác nguồn nhân lực đó đã có biến đổi về số lượng, cơ cấu và chất lượng, nguồn nhân lực đã qua đào tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao, ngày càng đáp ứng được yêu cầu tốt hơn của nền kinh tế. Tổ chức UNESCO khái niệm về phát triển nguồn nhân lực như sau: “Phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp với yêu cầu của phát triển đất nước”.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) lại cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn: nó không chỉ là trình độ lành nghề hay rộng hơn là đào tạo mà còn là phát triển năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp cho cuộc sống cá nhân. Sự lành nghề được hoàn thiện không chỉ nhờ vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng mà còn cả sự tích lũy kinh nghiệm trong cuộc sống và quá trình làm việc của người lao động”. Theo Gary Beckez, nhà kinh tế học nổi tiếng thế giới (Giải Nobel kinh tế năm 1992) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực, yếu tố đầu vào của sản xuất một phần nằm trong con người. Con người có thể tự đầu tư vào chính bản thân mình, biểu hiện thông qua việc chi tiêu cho giáo dục vào đào tạo để có thu nhập nhiều hơn 123doc 8 trong tương lai.
Việc đầu tư vào kỹ năng gắn liền với bản thân người lao động và người ta gọi đó là phát triển nguồn nhân lực, đầu tư vào vốn con người”. Như vậy, phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: thể lực, trí lực và tâm lực. Đây là nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia ở mỗi thời kỳ nhất định. Nguồn nhân lực chưa phải là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế và xã hội.
Nguồn nhân lực với chất lượng thấp, số lượng đông trong nhiều trường hợp lại trở thành lực cản đối với sự phát triển. Vì vậy, quan tâm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.3 Doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những Doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành 3 loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của nhóm Ngân hàng Thế giới, Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động.
Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước mình. Ở Việt Nam, căn cứ Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ – CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về Định nghĩa Doanh nghiệp vừa và nhỏ: DNVVN là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc quy định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ, từ 200 đến 300 người lao động được coi là doanh nghiệp vừa theo quy định về số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Trong năm 2013, mới nhất hiện nay thì chưa thấy có điều luật quy định thế nào là Doanh nghiệp vừa và nhỏ rõ ràng và cụ thể, chỉ thấy trong thông tư Số: 123doc 9 16/2013/TT-BTC, ban hành ngày 8 tháng 2 năm 2013 (hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu ngân sách nhà nước theo nghị quyết số 2/NQ-CP ngày 7 tháng 1 năm 2013 của chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu) thì Doanh nghiệp vừa và nhỏ được nhận dạng là: Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác xã (sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng) gọi chung là Doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa. Riêng, tiêu chí xác định doanh nghiệp doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP được quy định như sau: Bảng 2.
Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Khu vực siêu nhỏ Tổng nguồn Số lao động Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động vốn Nông, Lâm 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 người Từ trên 20 tỷ đồng Từ trên 200 người nghiệp và Thủy trở xuống trở xuống đến 200 người đến 100 tỷ đồng đến 300 người sản Công nghiệp và 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 người Từ trên 20 tỷ đồng Từ trên 200 người Xây dựng trở xuống trở xuống đến 200 người đến 100 tỷ đồng đến 300 người Từ trên 50 Thương mại và 10 người 10 tỷ đồng Từ trên 10 người Từ trên 10 tỷ đồng ngườiđến 100 Dịch vụ trở xuống trở xuống đến 50 người đến 50 tỷ đồng người (Nguồn:http://vanban.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail& document_id=88612) Tuỳ theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hoá các tiêu chí nêu trên cho phù hợp. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) chủ trì, phối hợp với các Bộ, Ngành, các cơ quan lien quan điều tra, tổng hợp và công bố số liệu thống kê về DNVVN hàng năm theo định nghĩa về DNVVN quy định tại Nghị định này. 123doc 10 Ở mỗi nước, do mục tiêu phát triển và điều kiện khác nhau nên tiêu chí phân loại cũng khác nhau. Thông thường có 2 nhóm tiêu chí phổ biến dùng để phân loại DNVVN: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng.
Tiêu chí định tính: dựa trên đặc tính cơ bản của DNVVN như: chuyên môn hóa thấp, ít đầu mối quản lý, mức độ phức tạp của quản lý thấp. Tiêu chí định lượng: sử dụng các tiêu chí như số vốn, số lao động, giá trị tài sản, doanh thu, lợi nhuận… 2.4 Động viên Mitchell (1982) đưa ra khái niệm về quá trình động viên từ rất sớm. Ông cho rằng động viên là quá trình tâm lý khơi gợi, hướng dẫn và duy trì hành vi hướng theo mục tiêu. Theo Pinder (1984) thì Động viên được hiểu như là một tập hợp các lực xuất phát từ bên trong và bên ngoài tạo nên, dẫn dắt và duy trì hành vi liên quan đến công việc của con người.
Dubrin (1995) cho rằng động viên là một quá trình tác động nhằm thỏa mãn nhu cầu của người khác hoặc của chính bản thân và phát huy hết động lực làm việc để đạt mục đích của cá nhân và tổ chức.