CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ĐỂ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Các khái niệm chung để nghiên cứu đề tài 1. Khái niệm về yếu tố cường thực Cường thực là một yếu tố xuất hiện khá nhiều trong các loại hình nghệ thuật. Trong Mỹ Thuật, yếu tố cường thực là một trong nhiều yếu tố tạo nên sự thành công cho một tác phẩm. Để hiểu nghĩa của yếu tố này ta phải xác định định nghĩa của từ “Cường thực”.
Cường thực là một từ ghép Hán Việt: - Cường: được hiểu là mạnh, nhấn mạnh. - Thực: có nghĩa là hiện thực, sự thực. Từ cường thực khi được ghép lại xẽ được hiểu theo nghĩa nhấn mạnh về một sự vật, sự việc cụ thể nào đó dựa trện hiện thực, làm cho đối tượng mô tả trở nên phi thực tế mà vẫn giữ được bản chất của hiện thực nhằm mang lại hiệu quả hơn trong việc mô tả về một đối tượng cụ thể, gây được sự chú ý mạnh hơn khi mô tả đối tượng. Trong văn học: cường thực, cường điệu hay cường điệu hoá là cách gọi chung để miêu tả một sự vật, sự việc có thật trong thực tế được mô tả theo cách chủ quan có chủ ý của tác giả.
Là phương thức xây dựng hình tượng điển hình qua việc sáng tạo ra những giá trị mới, những yếu tố mới, như sự kiện, cảnh vật, nhân vật trong một tác phẩm mô tả theo sự tưởng tượng của tác giả. Đây là một yếu tố không thể thiếu trong sáng tác văn học nghệ thuật được bắt nguồn từ cuộc sống nhưng không sao chép nguyên hiện thực của đối tượng. Từ những chất liệu thực tế, nghệ sĩ tổ chức, nhào nặn, sáng tạo ra những hình tượng nghệ thuật sinh động, rõ nét và điển hình hơn, tuy thuộc chủ đề của tác phẩm Trong mỹ thuật: người nghệ sỹ sử dụng yếu tố cường thực theo cách như để nhấn mạnh có chủ định vào nội dung của tác phẩm. Là cách xử lý các Luan van 11 hình thức, mầu sắc, không gian … nhằm nhấn mạnh hơn.
Dựa trên đặc điểm của từng loại hình nghệ thuật thì yếu tố này biểu hiện theo cách khác nhau nhằm mang lại tính biểu đạt về mặt thị giác cũng như quan điểm cá nhân về một vấn đề cụ thể trong sáng tác tác phẩm. Từ sự kết hợp dựa trên thực tế trong đó đối tượng miêu tả được nhấn mạnh tạo nên một khái niệm về sắc đẹp hoặc hình thể, chắt lọc lựa chọn các đặc tính riêng biệt của vật thể và sự kết hợp chúng thành một một tiêu chuẩn hoàn hảo. “Trong một tác phẩm nghệ thuật được hợp thành bởi rất nhiều yếu tố. Những yếu tố cơ bản là: chất liệu tạo ra bức tranh, tâm trạng của người sáng tác, hình dáng, đường nét, mầu sắc, đậm nhạt, kỹ thuật thể hiện tác phẩm … Việc sử dụng và phối hợp hài hoà các yếu tố trong tranh xẽ tạo nên chất lượng của tác phẩn” trích trong từ điển mỹ thuật của Lê Thanh Lộc [9, tr76].
Khái niệm về nghệ thuật Cực thực Nghệ thuật cực thực (Hyperrealism hay còn gọi là Superealism) là tên gọi của một Chủ nghĩa nghệ thuật hội họa và điêu khắc có sự biểu hiện cao về mặt cảm xúc và thị giác. Chủ nghĩa cực thực được coi là sự tiến bộ của nghệ thuật hiện thực ảnh (Photorealism). Thuật ngữ này được áp dụng cho một phong trào nghệ thuật độc lập và phong cách nghệ thuật ở Hoa Kỳ và Châu Âu từ đầu những năm 1970 tới nay. Cuốn sách “Nghệ thuật Mô đéc và hậu Mô đéc” của Lê Thanh Đức có viết: “Xu hướng Cực thực (Hypereaiism) là một trào lưu nghệ thuật xuất hiện ở Mỹ.
Làn sóng không rộng lắm này nở rộ lên tại Hoa Kỳ vào khoảng năm 1965-1970. Trên đất Mỹ, còn được gọi là super-realism (siêu hiện thực). Xu hướng này chủ trương chép nguyên dạng một bức ảnh chụp và phóng to thành “tranh”, vờn tỉa hết sức kỹ lưỡng, mầu sắc cũng dựa theo hình ảnh nhưng cường điệu đập vào mắt. Nét tiêu biểu Luan van 12 được ưa chuộng là trong tranh bao giờ cũng có những vật sáng loáng phản chiếu, như ánh kính, mặt gương, và đặc biệt rất Mỹ là những bộ phận mạ kền của ô tô” [5, tr114].
Trong cuốn “Từ điển mỹ thuật” của Lê Thanh Lộc biên soạn cũng có những khái niệm: “Cực thực là danh hiệu được đặt cho những phong cách ở thế kỷ XX trong đó có tinh thần hiện thực thái quá theo nghĩa quá chú trọng tới chi tiến tạo ra ấn tượng chung rõ rệt là không có vẻ thực tế” [9, tr210]. Trong cuốn “Từ điển mỹ thuật phổ thông” của tiến sỹ Đặng Thị Bích Ngân có viết: “Phong cách Cực thực là tên gọi của một xu hướng hội hoạ và điêu khắc phổ biến ở Mỹ và Châu Âu những năm 60 của thế kỷ XX. Phong cách này được gọi bằng các tên: Chủ nghĩa Cực thực (hyperealism), hiện thực ảnh (photorealism). Phái này chủ trương chép lại ảnh chụp và phóng to thành tranh, họ vẽ vờn tỉa rất kỹ lưỡng về mầu sắc, bố cục, đậm nhạt giống hệt ảnh mẫu.
Tuy nhiên trong mỗi tranh thường có một vài nét được cường điệu hơn; ví dụ: vờn gương mặt rõ hơn, tả mặt kính có độ bóng và nhẵn hơn trong ảnh chụp. Đối với các nhà điêu khắc Cực thực, họ đổ khuôn bằng nhựa các nhân vật người thật rồi đúc lại thành các pho tượng, sau đó dùng mầu bôi vẽ như người thật, thậm chí còn khoác lên các pho tượng những bộ quần áo thật nữa. Tất cả các kỹ thuật trong phong cách này đều nhằm tạo ra cái cực giống, cực thực, một số hoạ sỹ và nhà điêu khắc có tiếng của phái này là Hanson, Andrea, Eddy, Close, Estes, Morley và Goings” [11, tr113]. Nhà lý luận văn hoá, xã hội học, triết học, nhiếp ảnh gia nổi tiếng với các phân tích về phương tiện truyền thông, văn hoá đương đại người Pháp Jean Baudrillard bình luận: “nghệ thuật cực thực là mô phỏng lại một cái gì đó mà không bao giờ thực sự tồn tại” Luan van 13 Trong cuốn “Văn hoá Mỹ những năm 1980” của Thompson Graham [24, tr48] viết: “Một cuộc biểu tình của các nhiếp ảnh tạo nên sự cách mạng, đồng hoá vào thế giới nghệ thuật.
Là sự thành công của hội hoạ hiện thực vào cuối năm 1960 và đầu những năm 1970. Nó được gọi là Cực thực hay Siêu hiện thực” Nghệ sỹ Cực thực Paul Carden (hoạ sỹ Cực thực scotland) [37] nêu ra quan điểm của ông về nghệ thuật Cực thực: “tăng cường bình thường trên ảnh hưởng vật thể và cảnh quan dựa trên hình ảnh, video tĩnh, vân vân, ý tưởng là vượt xa các bức ảnh”, “nghệ thuật cực thực hướng đến việc tạo ra các tác phẩm có hiệu quả về mặt cảm xúc, xã hội và văn hoá mạnh mẽ, khác hẳn với nghệ thuật hiện thực chỉ chú ý về các vấn đề kỹ thuật”. Phát biểu của ông được coi là đại diện cho các nghệ sỹ khác cùng trường phái. Như vậy, từ những khái quát trên ta có thể rút ra được khái niệm về nghệ thuật Cực thực như sau: Nghệ thuật Cực thực được thể hiện dựa trên sự chắt lọc có chủ đích từ quan sát thực tế, những hình ảnh nhiếp ảnh nhưng người nghệ sỹ đã đưa nó tiến một bước xa hơn bằng một tổng thể phức tạp về mô phỏng, tạo ra một ảo giác mong manh giữa nghệ thuật và hiện thực.
Nghệ thuật Cực thực ngoài thể hiện sự chân thực đến khó tin thì việc đề cao sự cường điệu hoá, chi tiết hoá là đặc điểm ngôn ngữ và yếu tố tạo hình quyết định cho phong cách nghệ thuật Cực thực. Khái quát về nghệ thuật Cực thực 1. Sơ lược về lịch sử ra đời của nghệ thuật Cực thực Nghệ thuật Cực thực là một thể loại hội hoạ và điêu khắc giống như một bức ảnh có độ phân giải cao. Chủ nghĩa cực thực là một trường phái của nghệ thuật và được coi là một sự tiến bộ của nghệ thuật hiện thực ảnh, bằng các phương pháp được sử dụng để tạo ra các bức tranh hoặc tác phẩm điêu khắc mang tính mô phỏng.
Thuật ngữ này chủ yếu áp dụng cho phong trào Luan van 14 nghệ thuật độc lập và phong cách nghệ thuật ở Hoa Kỳ và Châu Âu gần đây đã phát triển từ đầu những năm 1970. Lịch sử ra đời của chủ nghĩa Cực thực: Thuật ngữ Hyperrealism (Chủ nghĩa cực thực) này bắt nguồn từ năm 1973, bởi nhà thương mại người Bỉ Isy Brachot. Sau một cuộc triển lãm tại phòng trưng bày của Brachot ở Brussels. Từ nghệ thuật Cực thực đã được sử dụng làm tên gọi chính thức cho các họa sỹ chịu ảnh hưởng của nghệ thuật hiện thực ảnh và theo đuổi phong cách sáng tác này từ đó.
Chủ nghĩa cực thực giai đoạn đầu của thế kỷ 21 được hình thành dựa trên các nguyên lý thẩm mỹ của chủ nghĩa hiện thực. Hoạ sỹ hện thực ảnh người Mỹ Denis Peterson là người đầu tiên tiên phong sử hình thứcnghệ thuật "Cực thực" để áp dụng cho phong trào sáng tác mới cùng nhóm nghệ sĩ của mình. Graham Thompson đã viết: "Một hình ảnh về cách nhiếp ảnh được hòa nhập vào thế giới nghệ thuật là sự thành công của bức tranh photorealist vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970. Nó còn được gọi là cực thực hay siêu hiện thực và các hoạ sĩ như Richard Estes, Denis Peterson, Audrey Flack, và Chuck Close thường làm việc từ những bức ảnh tĩnh để tạo ra những bức tranh dường như là những bức ảnh" [24, tr11].
Các tác phẩm của Chủ nghĩa cực thực khác các tác phẩm hiện thực ảnh truyền thống cuối thế kỷ 20 là các hoạ sĩ và nhà điêu khắc Cực thực sử dụng các hình ảnh nhiếp ảnh làm nguồn tài liệu tham khảo, từ đó tạo ra một sự trình bày chi tiết hơn và dứt khoát hơn, còn nghệ thuật hiện thực ảnh thường là sự miêu tả và diễn tả lại các bức ảnh. Các hoạ sỹ theo đuổi Chủ nghĩa cực thực có xu hướng bắt chước hình ảnh, thường bỏ qua hoặc cường thực các chi tiết cụ thể nhất định để duy trì một tổng thể phù hợp, độc đáo, chính xác, và sắc nét với sự nhấn mạnh. Mặt khác, Chủ nghĩa cực thực mặc dù bản chất giống nhiếp ảnh nhưng có sự chủ định và phức tạp hơn cho chủ đề được miêu tả, thể Luan van 15 hiện nó như một vật thể sống hữu hình. Những vật thể và cảnh quan trong các bức tranh và tác phẩm điêu khắc Cực thực thể hiện độ tỉ mỉ về chi tiết để tạo ra một thực tế mới không nhìn thấy trong bức ảnh gốc.
Đó là kết quả của một mô tả thuyết phục về thực tại.