mở đầu cho nền văn chương chữ Nôm. Tác giả cuốn Văn chương chữ: Nôm gọi đây là phôi thai thời đại (1225 - 1430), trong đó Nguyễn Sĩ Cổ với Qué dm thi phú, "có tài làm thơ quốc âm và khéo khôi hài”, Chu Văn An Œ - 1370) với Quốc ngữ thỉ tập, Hồ Quí Ly làm phú bằng quốc âm. Giai đoạn từ thế kỉ XV đến XVII : Chúng tôi nhận định về quá trình. phát triển giai đoạn này thông qua các tập thơ tiêu biểu: Một là, với Quốc dm thi tap, Nguyễn Trãi đã tô đậm xu hướng dân tộc hóa ở hình thức nghệ thuật lẫn nội dung thể loại, một cố gắng để xây dựng một lối thơ Việt Nam.
Nhà nghiên cứu Định Gia Khánh cũng nhận xét thấy: “Nguyễn Trãi là nhà thơ rất có ý thức" rên con đường tìm tòi một thể thơ dân tộc ít nhiều thoát ly Đường. luật trong khi vẫn giữ phong cách chung của thơ Đường luật [17,tr46]. Biểu hiện nổi bật của xu hướng dân tộc hóa là ở hai điểm sau đây: VỀ mặt nội dung, “Nhìn bao quát thì 254 bài thơ trong Quốc ẩm thỉ tập trước hết là thơ về. chủ đề thiên nhiên.
Nguyễn Trãi ca ngợi cảnh vật đất nước với tắm lòng tin. yêu, rộng mở.” [17, 258] - Về mặt hình thức, Nguyễn Trãi có rất nhiều sáng. “Về thể loại, trong thơ quốc âm Nguyễn Trãi có một số bài làm theo luật Đường; nhưng rất nhiều bài không phải luật Đường. Đó là thơ Việt đang trên xu hướng, định hình, có sự tiếp thu cả thơ Đường lẫn thơ ca dân gian dân tộc, câu 6 chữ xen vào những câu 7 chữ (.) Có những câu tuy là 7 chữ, nhưng cách ngắt nhịp 3/4 cho phép ta hiểu đó không phải là câu 7 chữ của thơ Trung.
'Quốc (vốn ngắt nhịp 4/3 là chính) Nguyễn Trãi đã sử dụng một vốn từ tiếng. Việt phong phú bậc nhất vào thời ấy để sáng tác thơ Nguyễn Trãi cũng rất thích đùng thành ngữ, tục ngữ của quần chúng. Nha nghiên cứu Lê Trí Viễn cũng nhận thấy: “Thẻ thơ lục ngôn, nói đúng hơn là thể thất ngôn bát cú có chen vào những câu lục ngôn, đó là một sự thay đổi có thể là một thí nghiệm tìm tỏi một âm điệ mới ra ngoài khuôn phép luật Đường” [57;tr. Hai là #iẳng Đức quốc âm thí tập vào nửa sau thể kỷ XV' một mặt kế thừa nội dung dân tộc ở Quốc ẩm thử tập.
Tắt nhiên là tập thơ có. nhiều hạn chế; lại là cái chính: đề tài thông tục nhưng lại mang khẩu khí cao sang. Thi tập có vẻ nặng nề tính chất cung đình. nhiều thành ngữ, tục ngữ, từ lắp láy được sử dụng (.
) Tính ước lệ tượng trưng là phổ biến 16 trong tác phẩm nhưng cũng có xu hưởng tả thực với những chỉ tiết cụ thể, sinh động” (17; tr 323). Ba là Bach Van thi tap (thường được gọi là Bạch Vân quốc ngữ thi) của Nguyễn Bình Khiêm (1491 - 15850) “Một cây đại thụ rợp bóng suốt thé ky XVI", Néu trong thơ chữ Hán, các thê tai dé vịnh, tha tac, trữ tình đều. được bảo lưu rất đậm thì ngược lại dường như trong thơ chữ ‘Nom chủ yếu là thơ ngôn chí. Gần gũi với Nguyễn Trãi về nội dung tư tưởng.
nhưng nếu như thơ Nguyễn Trãi thiên về cái tỉnh tế trong khi miêu tả sự diễn. biến, những rung động thẩm kín của trái tìm thì thơ Tuyết Giang phu tử thiên. về cái uyên thâm trầm lắng những nghĩ suy về thế sự. Có lẽ vì thể nên thơ.
Nguyễn Binh Khiêm thường giảu tính triết lý. Nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh khi nhận xét về thơ Đường luật của hai thể kỷ XVI và XVII có lẽ dựa trên thơ Nguyễn Binh Khiêm: “Sang các thế kỷ XVI và XVII thì thơ Đường. luật vốn rất phù hợp với yêu cầu trữ tình lại đã được nhiều tác giả sử dụng để viết về triết học, về đạo lý, tức là thể hiện những suy tư vẻ thế giới, về xã hội. Cùng với chân dung một con người luôn tự chủ, bình tĩnh, ung dung, thư thái, thường lạc quan, yêu thích thiên nhiên, hòa mình vào thiên nhiên, là âm vang của những dòng thơ tiếng Việt giản dị, trong sáng, vừa có cái cụ thể sinh động khi tiếp cận cuộc sống, vừa nâng lên tầm khái quát, cô đúc như những chân lý.
Quả thật tập thơ đã có những đóng góp mới cho xu hướng Việt hóa và quá trình dân chủ hóa thể loại này. Nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân viết: "Thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Binh Khiêm đã dược Việt hóa thêm một bước, nhất là về mặt ngôn ngữ, rất gần với thơ Nôm Nguyễn Công Trứ,, thậm chí Nguyễn Khuyến thời sau, trong những bài thơ đó, không tự giác mà nhà thơ đã phá vỡ truyền thống khuôn sáo, cầu kỳ, ước lệ trong phong cách thơ Nôm thời Lê Thánh Tông, xét về phong cách ngôn ngữ thì tho Nom Nguyễn Binh Khiêm cũng phản ảnh rất rỡ tác động ngày càng mạnh của thơ ca dân gian vào dòng văn học viết của trí thức phong kiến” [16, tr. 7 Nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên nhận xét: “Nguyễn Binh Khiêm đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng thơ tiếng Việt, ông tiếp tục cái quá trình sử. dụng và pha chế chất liệu ngôn ngữ thuần Việt.
Đặc biệt là đã đưa vào thơ. những chất liệu thường ngày, những câu chữ xuất từ ca dao, tục ngữ, từ tiếng nói bình dân. Đó là quá trình dân chủ hóa nền văn học dân tộc, một quá trình vi đại. Những câu thơ của Nguyễn Binh Khi mm: “Thèm nỡ phụ canh cua rắc./ Lạnh đà quen đắp ồ rơm ” chứa dựng bên trong nó một sự chuyển biến.
vĩ đại, một sự từ bỏ một nền mỹ học quan phương cung đình có phần nào rập. khuôn thơ Trung Hoa, đến việc kiến tạo một nền mỹ học dân tộc. biểu hiện của mỹ học của cái thường ngảy, đị. Tuy nhí , sự xuất hiện của ba truyện thơ Nôm khuyết danh (cho đến nay vẫn không chắc thời điểm xuất hiện) trong đó tác giả “kết” những bài thơ Đường luật lại để tự sự là một thể nghiệm cần thiết.
Truyện Vương Tường. dm 39 bài thơ thất ngôn bát cú và 10 bài thất ngôn tứ tuyệt. Tô công phụng sứ gồm 24 bài thất ngôn bát cú. Lâm tuyển kỳ ngộ (còn gọi là Bạch Viên Tôn Các) gồm 146 bài thất ngôn bát cú, 1 bài thất ngôn tuyệt cú ở cuối truyện ( ngoài ra còn có bài Thạch tuyền ca khúc phỏng theo thể hát nói) Qua thể nghiệm, có thể thấy rất rõ là: nếu sử dụng thơ Đường luật thất ngôn bát cú hay.
tuyệt cú để tự sự thì sẽ không thành công. Để tự sự các sự kiện, tình tiết cần. móc xích, đan xen lẫn nhau, nghĩa là cần có tính liên tục; trong khi đó, Đường luật lại có kết cấu chặt chẽ trong từng bài, tức sự hoàn inh, khép kín, không, chấp nhận sự co giãn, uyễn chuyển. Nói cách khác, có sự mâu thuẫn không thể giải quyết giữa hình thức thế loại với yêu cầu của tự sự.
Nhìn lại cả giai đoạn phát triển từ Quốc âm thi tập đến trước Hồ Xuân Hương, thì xu hướng. chung của thơ Nôm Đường luật là dân tộc hóa và xã hội hóa. Bên cạnh những đóng góp lớn, những thành tựu nghệ thuật là những thể nghiệm, tìm tòi nhưng không thành công. Tắt nhiên, vấn đề cải biến thơ bảy chữ ra xen sáu chữ 18 không phải là nhạc điệu luôn thất bại mà ngược lại dường như có một nhạc điệu khác có ý nghĩa và thẩm mỹ.
Giai đoạn từ thế kĩ XVIH đến đầu thế ki XIX: Nhận định Thơ Nôm. Đường luật từ Hồ Xuân Hương đến Trần Tế Xương là giai đoạn phát triển ở đỉnh cao của thể loại này. Nhà nghiên cứu Hoàng Hữu Yên viết: *.nhất là từ nửa thế kỷ thứ XVII về sau, thơ Nôm nói chung đều viết theo thể luật Đường. Với những thành tựu rực rờ của thơ Bà huyện Thanh Quan, nhất là thơ Hồ Xuân Hương thì thể thơ Nôm Đường luật ôn định, đạt đến đỉnh cao.
nghệ thuật” [35, tr. Tất nhiên, để đạt được đến đỉnh cao nghệ thuật, sự thành tựu rực rỡ ấy, có thể có nhiều yếu. , chẳng hạn, những chặng đường. trước đó như những thể nghiệm và đặc biệt là mấy chục năm ca thé ky XVIII như một chặng chuyển tiếp: "Riêng về phương diện văn chương, có thể nói rằng sự thịnh vượng của ba bồn chục năm về cuối thể kỹ XVIII là cái buồng đợi (salle đattente) để đưa người ta vào thé ky XIX” [35,tr.
chặng đường chuyển tiếp vắt qua hai thế kỷ ấy, cũng là mở đầu cho thế kỷ XIX, có Phạm Thái (1777 - 1813) va Trịnh Hoài Đức (176 - 1825), một trong Gia Định tam gia th. 'Văn học dân gian thế kỷ XVIII cũng có nhiều bài làm theo thể Đường. luật, như một số bài thơ cho là của Trạng Quỳnh. Tuy nhiên, hiện tượng phổ.
cập hóa, dân gian hóa của thơ Nôm Đường luật vào thế ky XIX đường như đã trở nên một nét đặc trưng của đời sông văn hóa dân tộc. Có thể nói thêm rằng. đây chính là giai đoạn vàng son của thể loại thơ Nôm Đường luật. Để đạt đến đỉnh cao của sự phát triển, thơ Nôm Đường luật đã tiếp tục xu hướng dân tộc hóa của nhiều thế ký trước, đồng thời, chuyển nhanh trên con đường dân chủ hóa cả nội dung lẫn hình thức thể loại.
Một cách khái quát, có thể nói thêm về hình thức câu thơ Nôm Đường luật giai đoạn này: hầu như đã xóa bỏ hình thức câu thất ngôn xen kẽ lục ngôn, như nhà nghiên cứu Đỉnh Gia Khánh nhận xét 19 và lý giải: "Thơ Đường luật có pha lục ngôn sẽ ít thấy từ thể kỹ XVIM trở đi, có lẽ vì khi ấy những thể thơ yêu vận như song thất lục bát và thơ lục bát đã đủ thành thục để đáp ứng một cách thích hợp hơn với cảm quan về âm điệu của người Việt cũng như yêu cầu phản ánh của thơ ca Việt” [17, 67] Đi vào cụ thể, để làm nên diện mạo của thơ Nôm Đường luật giai đoạn này, chúng tôi thấy có những khuôn mặt tiêu biểt u: Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ. Đến Bà huyện Thanh Quan và Hồ Xuân. Huong, dong thơ Dường luật đã xuất hiện phong cách tác giả. Đây là bước phát triển vượt bậc.
Trước hai nữ sĩ, chúng ta chỉ thấy phong cách thời đại và phong cách thể loại cua tho Nom Đường luật. mươi bài của Hồ Xuân Hương và chưa đẩy mười bài của Bả huyện Thanh Quan - số lượng.