Chương 1 giới thiệu đề tài nghiên cứu bằng cách trình bày nền tảng nghiên cứu, xác định vấn đề nghiên cứu và giải thích ý nghĩa của nghiên cứu. Chương này cũng cung cấp tổng quan các vấn đề trong bài nghiên cứu như: phương pháp, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và kết cấu của đề tài nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 “An sinh xã hội” 2.1 Khái niệm “An sinh xã hội” “An sinh xã hội” (ASXH) là khái niệm được ra đời ở các nước công nghiệp phát triển từ cuối thế kỷ XIX và hiện nay đã phát triển rộng khắp trên toàn thế giới. ASXH là khái niệm có nội dung rộng và ngày càng được hoàn thiện về phạm vi, đối tượng và chức năng.
Theo một số tổ chức thế giới thì ASXH được hiểu như sau: Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “ASXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biệc pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, cú sốc về kinh tế và xã hội là mất hoặc suy giảm nghiêm trọng nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động hoặc tử vong. Cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình có nạn nhân trẻ em”. Định nghĩa nhấn mạnh sự phân phối phúc lợi, bảo hiểm và mở rộng việc làm cho đối tượng của BHXH. Theo Ngân hàng Thế giới (WB); “ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiếm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập”.
Định nghĩa nhấn mạnh đến các giải pháp hạn chế nguy cơ làm giảm thu nhập của cá nhân, gia đình và cộng đồng. Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB): “ASXH là các chính sách, chương trình giảm nghèo và sự giảm sự yếu thế bởi sự thúc đẩy có hiệu quả thị trường lao động, giảm thiểu rủi ro của nguời dân và nâng cao năng lực của họ để đối phó với rủi ro và suy giảm hoặc mất thu nhập”. Định nghĩa nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc đảm bảo ASXH, giảm nhẹ những tác động tiêu cực đến người dân. Ở Việt Nam, khái niệm ASXH cũng còn có nhiều ý kiến khác nhau.TS Mai Ngọc Cường trong công trình “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam” lại cho rằng, để thấy rõ bản chất của ASXH cần phải nắm bắt khái niệm này theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
7 Theo nghĩa rộng. “ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được bình an, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội”. Còn khi hiểu ASXH theo nghĩa hẹp thì đó “là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch họa”. Theo GS Hoàng Chí Bảo “ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, taọ tiền đề và động lực phát triển con người và xã hội.
ASXH là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một còn người và phát triển các sức mạnh bản chất người, từ là nhân tính trong hoạt động trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách”. Trong Chiến lược ASXH giai đoạn 2011-2020 do Bộ lao động, thương binh và xã hội xây dựng thì: “ASXH là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”. Tóm lại, An sinh xã hội là những can thiệp của Nhà nước và xã hội bằng biện pháp kinh tế để hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng cho bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình động con.2 Bản chất và tính tất yếu của chính sách ASXH Chính sách ASXH là hệ thống các chính sách do nhà nước ban hành để thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội. Theo các khái niệm ASXH ở trên, có thể thấy: ASXH trước hết đó là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình.
Sự bảo vệ này được thực hiện thông qua các biện pháp công cộng. Mục đích của sự bảo vệ này nhằm giúp đỡ các thành viên của xã hội trước những biến cố, những “rủi ro xã hội” dẫn đến thu nhập bị mất hoặc giảm. 8 Như vậy, có thể nói bản chất sâu xa của ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội với phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và tính nhân văn sâu sắc. Nội dung của ASXH rất lớn nhưng nó tập trung vào ba vấn đề chính: Thứ nhất, BHXH là trụ cột cơ bản, cần thiết cho sự đảm bảo.
Có thể nói BHXH là xương sống của hệ thống ASXH. Chỉ khi có một hệ thống BHXH hoạt động có hiệu quả thì mới có thể có một nền ASXH vững mạnh. BHXH dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia, gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước trong một số trường hợp. Thông qua các trợ cấp BHXH, người lao động có được một khoảng thu nhập bù đắp hoặc thay thế cho những khoảng thu nhập bị giảm hoặc mất trong những bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm.
Thứ hai, sự cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người lao động và các thành viên gia đình họ, nhằm bào đảm cho họ tái tạo được sức lao động, duy trì và phát triển nền sản xuất xã hội, kể cả phát triển bản thân con người. Thứ ba, là các trợ cấp giúp xã hội (cung cấp tiền, hiện vật.) cho những người có rất ít hoặc không có tài sản (người nghèo khó), những người cần sự giúp đỡ đặc biệt cho các gánh nặng gia đình, ASXH cũng khuyến khích, thậm chí bao quát cả những loại trợ giúp như miễn giảm thuế, trợ cấp về ăn, ở, dịch vụ đi lại. Như vậy, có thể thấy rõ bản chất của ASXH là nhằm che chắn, bảo vệ cho các thành viên của xã hội trước mọi “biến cố xã hội” bất lợi.3 Vai trò của hệ thống “An sinh xã hội” đối với sự phát triển xã hội • Nâng cao hiệu lực và hiệu quả của nền kinh tế thị trường Với điều kiện chung, các chương trình bảo trợ xã hội phải trực tiếp tác động tĩnh về mặt giảm nghèo. Ngoài ra, theo nghĩa gián tiếp và động, chúng mang lại lợi ích cho năng suất theo nhiều cách khác nhau: thứ nhất giảm bớt hoặc ngăn chặn sự loại trừ của xã hội; thứ hai là trao quyền cho phụ nữ và nam giới trong việc giảm bớt các ràng 9 buộc thường ngăn cản phát triển các doanh nghiệp nhỏ hoặc cá thể; thứ ba cũng là cách quan trọng nhất là giúp tăng cường vốn con người và hỗ trợ lực lượng lao động lành mạnh và có trình độ học vấn.
Ngược lại, nhiều nghiên cứu đã xem xét các kênh mà qua đó thiếu bảo trợ xã hội tác động đến hoạt động kinh tế, trong đó một tác động quan trọng đến thị trường vốn không hoàn hảo; cụ thể tín dụng hoặc các ràng buộc như vậy có thể là về bản chất tài chính, nhưng đều bao gồm các vấn đề không tiếp cận được với một số tài nguyên hoặc quy định. Tóm lại, cho thấy một sự đồng thuận mạnh mẽ đang xuất hiện rằng an sinh xã hội được thiết kế tốt hệ thống và hiệu suất kinh tế hợp lý có thể và cùng tồn tại. Trên thực tế, nó ngày càng hiển nhiên rằng an sinh xã hội đầy đủ hoàn toàn không phải là hệ quả của kinh tế tăng trưởng – đó là điều kiện tiên quyết cho sự tăng trưởng này. • Tạo điều kiện làm việc hiệu quả Hệ thống ASXH đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện để làm việc hiệu quả.
Tuy nhiên, tác động của ASXH đối với việc làm, cụ thể là chủ đề của một cuộc tranh luận lâu dài. Một trong những vấn đề được thảo luận nhiều nhất về mặt này đó là tác động của ASXH đối với hoạt động kinh tế của các cá nhân và sự tham gia của lực lượng lao động – và câu hỏi liệu ASXH có ngăn cản những nguời từ việc làm không. Mục tiêu của hầu hết các phúc lợi an sinh xã hội là cung cấp thu nhập để ngăn chặn đói nghèo trong tình huống khi mọi người tạm thời (thất nghiệp, ốm đau, thai sản) hoặc vĩnh viễn (tàn tật, già yếu) không có khả năng lao động. Thách thức là thiết kế các lợi ích và đảm bảo việc phân phối chúng thoe cách đảm bảo mà không khuyến khích lao động không mong muốn hành vi thị trường.
• Ổn định nhu cầu và duy trì kinh tế và hòa bình xã hội trong thời kỳ khủng hoảng Vai trò của hệ thống ASXH như một bộ ổn định tự động trong các cuộc khủng hoảng đã được thừa nhận rộng rãi trong các cuộc suy thoái kinh tế và tài chính toàn cầu gần đây. Nó có cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng các quốc gia có hệ thống ASXH hiệu quả có thể phản ứng nhanh hơn và hiệu quả hơn với một cuộc khủng hoảng. 10 Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu cũng cho thấy hiệu quả nhất các công cụ an xinh xã hội nhằm giảm thiểu tình trạng xã hội thoát khỏi khủng hoảng là sự ra đời hoặc gia hạn thời gian thất nghiệp hoặc trợ cấp thất nghiệp một phần. Các phân tích của ILO có tiết lộ rằng việc gia tăng chi tiêu cho các hoạt động ổn định kinh tế và xã hội đã giúp tiết kiệm càng nhiều việc làm trên toàn thế giới như các gói kích thích đột xuất tùy ý.
Các chương trình Đảm bảo Việc làm, rất có thể có thể được tài trợ bằng một nửa chi phí nêu trên. Một đặc điểm quan trọng của phản ứng của các chương trình an sinh xã hội trong cuộc khủng hoảng là tính linh hoạt - ví dụ, thời gian hưởng lợi đã được tăng lên toàn bộ và một phần các chương trình thất nghiệp.