Tổng quan nghiên cứu

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là trụ cột cốt lõi trong hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam, được khẳng định qua Nghị quyết số 21-NQ/TW và Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Mặc dù chính sách đã mở rộng đối tượng tham gia từ sau Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, tỷ lệ người lao động tham gia loại hình này trên phạm vi cả nước vẫn còn ở mức khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 0,23% tổng số đối tượng thuộc diện thụ hưởng tiềm năng. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phân tích sâu sắc các rào cản hành vi và yếu tố kinh tế - xã hội tác động đến người lao động tự do tại các địa bàn nông thôn, vùng sâu và khu vực biên giới.

Tại huyện Vĩnh Hưng, một huyện vùng sâu thuộc khu vực Đồng Tháp Mười của tỉnh Long An với 45,62 km đường biên giới giáp Campuchia, kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp hàng hóa và thương mại cửa khẩu. Số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện đã ghi nhận mức tăng trưởng từ 466 người năm 2020 lên 2.099 người năm 2022 (đạt tỷ lệ 102,43% kế hoạch được giao). Tuy nhiên, con số này vẫn còn rất nhỏ so với quy mô lực lượng lao động nông nghiệp và lao động phi chính thức chiếm trên 70% dân số toàn huyện.

Đề tài tập trung phân tích thực trạng tham gia và xác định các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người dân tại huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. Phạm vi dữ liệu thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn 2020 - 2022, kết hợp dữ liệu sơ cấp khảo sát 140 người dân trong khoảng thời gian từ tháng 07/2023 đến tháng 12/2023. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở khoa học định lượng giúp các cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện chính sách, hướng tới mục tiêu bao phủ 5% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện vào năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai mô hình lý thuyết hành vi kinh điển: Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA của Fishbein và Ajzen, 1975) và Thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB của Ajzen, 1991). Theo mô hình TRA và TPB, ý định hành vi là biến số tiền đề trực tiếp quyết định hành vi tiêu dùng thực tế của một cá nhân, chịu sự chi phối bởi ba thành phần cốt lõi: thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan (ảnh hưởng xã hội) và nhận thức kiểm soát hành vi.

Kế thừa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế của Liyue và Yu (2006), Nguyễn Quốc Bình (2013), Trương Thị Phượng và Nguyễn Thị Hiền (2013), mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm 1 biến phụ thuộc là Ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và 6 biến độc lập được cấu thành từ 28 biến quan sát. Các khái niệm chính bao gồm:

  1. Bảo hiểm xã hội tự nguyện: Loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, người tham gia được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập để hưởng chế độ hưu trí và tử tuất.
  2. Lao động tự do: Người lao động thuộc khu vực kinh tế phi chính thức, không có hợp đồng lao động chuẩn hóa hoặc hợp đồng dưới 3 tháng, không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
  3. Nhận thức an sinh xã hội: Mức độ thấu hiểu của người dân về giá trị giảm thiểu rủi ro tài chính và bảo đảm chăm sóc y tế khi về già.
  4. Ảnh hưởng xã hội: Áp lực từ chuẩn mực niềm tin của người thân, gia đình và cộng đồng xung quanh đối với quyết định tham gia.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp linh hoạt giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2020 - 2022 của Bảo hiểm xã hội huyện Vĩnh Hưng, Chi cục Thống kê huyện và các văn bản pháp luật hiện hành như Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, Nghị định số 115/2015/NĐ-CP.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Khảo sát trực tiếp 140 lao động tự do chưa tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện tại 1 thị trấn và 9 xã thuộc huyện Vĩnh Hưng từ tháng 07/2023 đến tháng 12/2023.

Quy mô mẫu được xác định theo nguyên tắc phân tích nhân tố khám phá EFA của Hair và cộng sự (2006) với tỷ lệ tối thiểu 5 quan sát trên 1 biến đo lường (k = 5/1). Với 28 biến quan sát trong mô hình, kích cỡ mẫu tối thiểu cần đạt là 140 mẫu (28 biến nhân với 5). Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên thuận tiện kết hợp gạn lọc đối tượng phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Rất không đồng ý đến 5: Rất đồng ý).

Quy trình xử lý số liệu được thực hiện trên phần mềm SPSS 20.0 bao gồm: Thống kê mô tả đặc trưng nhân khẩu học; Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha (chấp nhận hệ số lớn hơn 0,6 và tương quan biến - tổng lớn hơn 0,3); Phân tích nhân tố khám phá EFA (hệ số KMO đạt từ 0,5 đến 1,0, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê với Sig. nhỏ hơn 0,05, tổng phương sai trích lớn hơn 50%); Phân tích tương quan Pearson và Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến. Phương pháp hồi quy được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác trọng số tác động của từng biến số độc lập lên ý định tham gia, đồng thời kiểm định chặt chẽ các hiện tượng đa cộng tuyến (hệ số VIF nhỏ hơn 10) và tự tương quan (hệ số Durbin-Watson từ 1,5 đến 2,5).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích đặc trưng mẫu khảo sát từ 140 đối tượng lao động tự do trên địa bàn huyện Vĩnh Hưng cho thấy các đặc điểm nhân khẩu học rõ nét:

  • Về giới tính: Nữ giới chiếm tỷ trọng áp đảo với 60,69% (85 người), trong khi nam giới chiếm 39,31% (55 người).
  • Về độ tuổi: Nhóm tuổi lao động sung sức từ 31 đến 45 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 37,02% (52 người); nhóm từ 15 đến 30 tuổi chiếm 26,34% (37 người); nhóm 46 đến 60 tuổi chiếm 25,57% (36 người); và trên 60 tuổi chiếm 11,07% (15 người).
  • Về cơ cấu nghề nghiệp: Lao động nông nghiệp chiếm 39,69% (56 người), chăn nuôi chiếm 32,82% (46 người), buôn bán nhỏ lẻ chiếm 12,21% (17 người), còn lại là các nghề tự do khác chiếm 15,27% (21 người).
  • Về mức thu nhập: Có 55,34% đối tượng (77 người) có thu nhập từ 3 đến 5 triệu đồng/tháng; mức dưới 3 triệu đồng/tháng chiếm 12,60% (18 người); từ 5 đến 7 triệu đồng/tháng chiếm 20,61% (29 người); và chỉ 11,45% (16 người) có mức thu nhập trên 7 triệu đồng/tháng.

Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến cho thấy toàn bộ 6 nhân tố đưa vào mô hình đều có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê (Sig. nhỏ hơn 0,05) đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người dân. Thứ tự mức độ ảnh hưởng giảm dần theo hệ số hồi quy chuẩn hóa Beta như sau:

  1. Thu nhập (TN): Beta = 0,308 (nhân tố tác động mạnh nhất).
  2. Thái độ (TD): Beta = 0,302 (nhân tố tác động lớn thứ hai).
  3. Hiểu biết về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện (HB): Beta = 0,209.
  4. Truyền thông (TT): Beta = 0,207.
  5. Nhận thức tính an sinh xã hội (NT): Beta = 0,191.
  6. Ảnh hưởng xã hội (AH): Beta = 0,179 (nhân tố có mức độ tác động thấp nhất).

Thống kê điểm trung bình của các thang đo phản ánh rằng người dân đánh giá rất cao giá trị an sinh xã hội của chính sách (điểm trung bình đạt 4,15/5) và có thái độ rất tích cực (điểm trung bình đạt 4,18/5). Tuy nhiên, mức độ hiểu biết cụ thể về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện lại ghi nhận mức điểm thấp nhất, chỉ đạt 3,30/5 điểm.

Thảo luận kết quả

Mức độ tác động mạnh nhất của biến Thu nhập (Beta = 0,308) hoàn toàn phù hợp với thực tiễn đời sống kinh tế tại huyện Vĩnh Hưng. Theo Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, từ ngày 01/01/2022 mức chuẩn hộ nghèo nông thôn tăng lên 1.500.000 đồng/tháng, dẫn đến mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện tối thiểu hàng tháng tăng lên 330.000 đồng/tháng (tương ứng 22% mức chuẩn nghèo). Trong bối cảnh 67,94% người được khảo sát có mức thu nhập dưới 5 triệu đồng/tháng và thu nhập phụ thuộc nhiều vào tính thời vụ nông nghiệp, việc trích một khoản tiền cố định hàng tháng trong thời gian dài 20 năm là một áp lực tài chính không nhỏ.

Nhân tố Thái độ (Beta = 0,302) và Hiểu biết chính sách (Beta = 0,209) giữ vai trò then chốt tiếp theo. Khi người dân nhận thức được tham gia bảo hiểm xã hội là để nhận lương hưu và được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí khi về già, họ sẽ hình thành thái độ tích cực (điểm quan sát TD2 đạt 4,29 điểm). Tuy nhiên, rào cản lớn nằm ở chỗ người dân chưa hiểu rõ về nguyên tắc liên thông đóng - hưởng giữa bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện (HB4 chỉ đạt 3,32 điểm), cũng như còn băn khoăn về quy định nâng tuổi nghỉ hưu.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các phát hiện của Hoàng Thu Thủy và Bùi Hoàng Minh Thư (2018) tại Phú Yên, cũng như nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường và cộng sự (2014) tại Nghệ An. Dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ phân tán phần dư chuẩn hóa và biểu đồ cột so sánh trọng số Beta của 6 nhóm yếu tố, giúp minh chứng rõ nét rằng cải thiện thu nhập và nâng cao truyền thông chính sách là hai giải pháp song hành mang tính quyết định.

Đề xuất và khuyến nghị

Căn cứ vào kết quả định lượng về trọng số tác động của các nhân tố, bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể được đề xuất nhằm nâng cao tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Vĩnh Hưng:

  1. Triển khai các chính sách hỗ trợ tạo việc làm và ổn định thu nhập cho lao động tự do: Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Hưng cần phối hợp chặt chẽ với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện ưu tiên giải ngân nguồn vốn vay ưu đãi phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ biên mậu. Phấn đấu nâng mức thu nhập bình quân đầu người của huyện từ 55 triệu đồng/năm lên 65 triệu đồng/năm trong giai đoạn 2024 - 2026, tạo nền tảng tài chính vững chắc giúp nhóm 67,94% lao động thu nhập thấp có tích lũy tham gia bảo hiểm.
  2. Đổi mới phương thức truyền thông và nâng cao mức độ hiểu biết chính sách: Bảo hiểm xã hội huyện Vĩnh Hưng chủ trì phối hợp với Trung tâm Văn hóa Thông tin và Truyền thanh huyện đổi mới nội dung tuyên truyền. Thay vì truyền thông lý thuyết chung chung, cần tập trung giải thích rõ về quyền lợi liên thông đóng bảo hiểm, chế độ tử tuất và lợi ích sở hữu thẻ bảo hiểm y tế chi trả 95% chi phí khám chữa bệnh khi hưởng lương hưu. Mục tiêu đặt ra là nâng điểm hiểu biết chính sách từ mức 3,30 lên trên 4,20 điểm trước năm 2025 thông qua các ấn phẩm infographic và mạng xã hội.
  3. Kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới 52 đại lý thu và cộng tác viên cơ sở: Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An và huyện Vĩnh Hưng cần tổ chức tối thiểu 4 đợt tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu mỗi năm cho đội ngũ 52 nhân viên đại lý thu tại 10 xã, thị trấn. Áp dụng các mô hình tư vấn nhóm nhỏ trực tiếp tại địa bàn ấp, khu phố, hỗ trợ người dân đăng ký phương thức đóng linh hoạt (hàng tháng, 3 tháng hoặc 6 tháng/lần) qua ứng dụng ngân hàng số, phấn đấu nâng tỷ lệ tái tục hợp đồng đạt trên 95% vào năm 2027.
  4. Đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính hỗ trợ mức đóng từ ngân sách địa phương: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Long An xem xét ban hành nghị quyết hỗ trợ thêm từ 10% đến 20% mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người thuộc hộ nghèo, cận nghèo và nông dân trực tiếp sản xuất từ nguồn ngân sách địa phương, bổ sung vào mức hỗ trợ 30% và 25% hiện hành của Trung ương. Chính sách này kỳ vọng sẽ tạo bước đột phá để hoàn thành chỉ tiêu 5% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện vào năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo ứng dụng sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý Bảo hiểm xã hội và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội: Cán bộ quản lý có thể sử dụng hệ số hồi quy định lượng của 6 nhân tố để xây dựng kịch bản phát triển đối tượng tham gia phù hợp với từng phân khúc dân cư, đồng thời chuẩn hóa quy trình đào tạo thực tiễn cho hệ thống 52 nhân viên đại lý thu trên toàn địa bàn.
  2. Lãnh đạo chính quyền địa phương cấp huyện, xã tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long: Các nhà hoạch định chính sách tại các địa phương có điều kiện tự nhiên và cơ cấu kinh tế tương đồng (với trên 70% lao động nông nghiệp) có thể tham khảo mô hình để lồng ghép chỉ tiêu an sinh xã hội vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội hàng năm.
  3. Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế, Xã hội học: Công trình cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về việc vận dụng mô hình lý thuyết TRA, TPB kết hợp quy trình xử lý định lượng bằng phần mềm SPSS 20.0 (từ kiểm định Cronbach's Alpha, EFA đến hồi quy tuyến tính đa biến) trên tập dữ liệu khảo sát 140 mẫu.
  4. Các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội (Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ): Cán bộ hội đoàn có thể ứng dụng các phát hiện về rào cản tâm lý và thu nhập để thiết kế các chương trình sinh hoạt chuyên đề, phát huy hiệu ứng lan tỏa của biến Ảnh hưởng xã hội (Beta = 0,179) nhằm vận động hội viên chủ động tham gia tự nguyện.

Câu hỏi thường gặp

  1. Nhân tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Vĩnh Hưng?

    • Kết quả phân tích hồi quy đa biến khẳng định Thu nhập là nhân tố tác động mạnh nhất với hệ số Beta chuẩn hóa đạt 0,308 (Sig. nhỏ hơn 0,05). Do có tới 55,34% lao động có thu nhập từ 3 đến 5 triệu đồng/tháng, tính ổn định về kinh tế là điều kiện tiên quyết chi phối quyết định trích ngân sách tham gia lâu dài.
  2. Cỡ mẫu 140 người có đảm bảo độ tin cậy khoa học cho phân tích định lượng không?

    • Quy mô mẫu 140 hoàn toàn thỏa mãn tiêu chuẩn nghiên cứu của Hair và cộng sự (2006) với tỷ lệ 5 mẫu trên 1 biến quan sát cho mô hình gồm 28 biến đo lường (28 nhân 5 bằng 140). Tất cả thang đo đều đạt hệ số Cronbach's Alpha trên 0,70 và phương sai trích EFA trên 50%, bảo đảm độ tin cậy thống kê cao.
  3. Tại sao số người tham gia tăng từ 466 lên 2.099 người năm 2022 nhưng mức độ hiểu biết chính sách lại thấp?

    • Mức tăng trưởng đạt 2.099 người năm 2022 chủ yếu tập trung ở nhóm người đã có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trước đó muốn đóng tiếp để hưởng lương hưu. Phần lớn lao động tự do thuần túy vẫn chưa hiểu sâu về cơ chế tính lãi suất bảo hiểm và quy định liên thông (điểm trung bình chỉ đạt 3,30/5).
  4. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện hiện hành được quy định cụ thể ra sao?

    • Theo Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và Nghị định 07/2021/NĐ-CP, mức đóng hàng tháng bằng 22% mức thu nhập do người lao động lựa chọn. Mức đóng thấp nhất bằng chuẩn nghèo nông thôn (1.500.000 đồng nhân với 22% bằng 330.000 đồng/tháng), trong đó Nhà nước hỗ trợ tiền đóng từ 33.000 đồng đến 99.000 đồng/tháng tùy theo diện đối tượng.
  5. Những kênh truyền thông nào mang lại hiệu quả cao nhất cho người dân khu vực nông thôn?

    • Với hệ số hồi quy của Truyền thông đạt Beta = 0,207, việc kết hợp giữa tuyên truyền qua hệ thống loa truyền thanh cơ sở, nền tảng số Zalo và mạng lưới 52 nhân viên đại lý thu tư vấn trực tiếp tận hộ gia đình mang lại hiệu quả chuyển đổi nhận thức cao nhất cho người dân.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã xác định và kiểm định thành công mô hình 6 nhân tố tác động có ý nghĩa thống kê đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của lao động tự do tại huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.
  • Khẳng định Thu nhập (Beta = 0,308) và Thái độ (Beta = 0,302) là hai động lực chi phối mạnh mẽ nhất, trong khi Hiểu biết chính sách (Beta = 0,209) và Truyền thông (Beta = 0,207) là các đòn bẩy thúc đẩy quan trọng.
  • Phản ánh trung thực thực trạng phát triển người tham gia tăng từ 466 người năm 2020 lên 2.099 người năm 2022, đồng thời chỉ ra điểm nghẽn nhận thức khi điểm hiểu biết chính sách mới chỉ đạt 3,30/5 điểm.
  • Đề xuất 4 nhóm hàm ý chính sách toàn diện kết hợp giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, đổi mới truyền thông và tăng cường mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách địa phương.
  • Thiết lập lộ trình thực hiện từ năm 2024 đến năm 2030 nhằm hướng tới mục tiêu bao phủ 5% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện theo đúng định hướng của Nghị quyết số 28-NQ/TW.

Các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức đoàn thể và các nhà nghiên cứu hãy cùng tham khảo, ứng dụng kết quả của luận văn để chung tay mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội bền vững cho mọi người lao động.