Chương 1: Tổng quan đề tài. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu Trong chương này sẽ tập trung vào việc trình bày các lý thuyết, khái niệm cơ bản về dịch vụ, dịch vụ truyền hình, các lý thuyết liên quan đến ý định hành vi, giới thiệu về các nghiên trước. Từ đó, đưa ra mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu đề xuất.1 Khái niệm về dịch vụ Trên thế giới ngày nay, nền kinh tế không chỉ đơn thuần với các sản phẩm vật chất cụ thể, mà bên cạnh đó còn tồn tại các sản phẩm dịch vụ, dịch vụ được xem là ngành công nghiệp không khói, tổng thu nhập của một quốc gia cũng như doanh thu của một doanh nghiệp không thể không tính đến sự đóng góp của dịch vụ (Kotler và Armstrong, 2018).
Theo Zeithaml & Bitner (1996) cho rằng: “Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức làm việc để tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng”. Theo Kotler và Armstrong (2018), “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Hiện nay có rất nhiều tác giả định nghĩa khách nhau về chất lượng dịch vụ như: Theo Edvardsen và cộng sự (1994) cho rằng “Chất lượng dịch vụ là dịch vụ đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng và là nhận thức của họ khi đã sử dụng dịch vụ”.
Theo Dotchin và Oakland (1994) định nghĩa “Chất lượng dịch vụ liên quan đến khả năng dịch vụ đó đáp ứng nhu cầu hoặc kỳ vọng của khách hàng”. Theo Feigenbaum và cộng sự (1999) nhận định rằng “Chất lượng là quyết định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên những yêu cầu của khách hàng - những yêu cầu này có thể được nêu ra hoặc không nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn - và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh”. 8 Theo American Society for Quality (ASQ) “Chất lượng thể hiện sự vượt trội của hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và làm hài lòng khách hàng”. Theo Gronroos (1984), “Chất lượng dịch vụ là kết quả của một quá trình đánh giá khi khách hàng dựa trên so sánh dịch vụ thực sự mà khách hàng đã nhận được với sự mong đợi của họ”.
Đồng quan điểm với Gronroos, Parasuraman và cộng sự (1985) đã nhận định “Chất lượng dịch vụ là một hình thức của thái độ, là kết quả từ sự so sánh giữa dịch vụ thực tể mà khách hàng nhận thức được khi tiêu dùng dịch vụ với sự mong đợi của họ. Chất lượng dịch vụ có liên quan nhưng không tương đồng với sự hài lòng của khách hàng”. Tóm lại, chất lượng dịch vụ đo lường mức độ tổt của một dịch vụ so với sự mong đợi của khách hàng. Doanh nghiệp đáp ứng hoặc vượt quá mong đợi được coi là có chất lượng dịch vụ cao.2 Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ có những đặc điểm riêng biệt giúp ta có thể phân biệt với các sản phẩm vật chất, đó cũng chính là điều mà các nhà quản trị, các doanh nghiệp cần phải nắm vững để có chiến lược, hành động đúng.
Theo (Parasuraman và cộng sự, 1985) dịch vụ có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, dịch vụ là sản phẩm vô hình, không hiện hữu sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể. Sản phẩm mà dịch vụ tạo ra để phục vụ thì không thể xác định một cách cụ thể bằng các tiêu chuẩn kỹ thuật. Cái mà khách hàng cảm nhận được từ sản phẩm dịch vụ lại chính là các phương tiện chuyển giao dịch vụ tới khách hàng. Thứ hai, Dịch vụ có tính không tách riêng.
Hay nói cách khác việc cung ứng sản phẩm và việc tiêu dùng sản phẩm diễn ra đồng thời. Một sản phẩm dịch vụ được tạo ra cũng chính là lúc đó nó được tiêu dùng. Do vậy thái độ bên ngoài của các nhân viên tiếp xúc, của yếu tố bên ngoài là rất quan trọng. Nó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dịch vụ.
Thứ ba, Dịch vụ không có dự trữ. Đây chính là hệ quả của đặc điểm không tách riêng. Do sản xuất và tiêu dùng diễn ra cùng một lúc nên sản phẩm dịch vụ không có dự trữ, 9 không thể cất trữ trong kho, để làm phần đệm điều chỉnh sự thay đổi nhu cầu của thị trường như các sản phẩm vật chất khác. Thứ tư, Tính không ổn định và khó xác định được chất lượng.
Chất lượng dịch vụ thường dao động trong một biên độ rất rộng, tùy thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ (ví dụ, người cung ứng, thời gian, địa điểm cung ứng phục vụ). Thứ năm, Hàm lượng trí thức trong dịch vụ chiếm tỷ lệ lớn. Người ta không cần các nguyên vật liệu đầu vào hữu hình như dây chuyền sản xuất hay nhà máy để sản xuất ra dịch vụ, mà giữ vai trò quan trọng nhất trong hoạt động dịch vụ là yếu tố con người, thể hiện qua quá trình sử dụng chất xám và các kỹ năng chuyên biệt với sự hỗ trợ của các dụng cụ, trang thiết bị chứ không phải ở sức mạnh cơ bắp hay các hoạt động gắn liền với các dây chuyền sản xuất đồ sộ. Đối với những ngành dịch vụ có tính truyền thống như phân phối, vận tải hay du lịch thì tầm quan trọng của cơ sở vật chất kỹ thuật cũng rất đáng kể, tuy thế, vai trò của tri thức vẫn là chủ yếu và không thể thiếu được.
Thứ sáu, Sự nhạy cảm của dịch vụ đối với tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Đây là đặc điểm nổi bật và quan trọng nhất của dịch vụ, thể hiện ở chất lượng dịch vụ không ngừng được tinh vi hoá, chuyên nghiệp hóa và quan trọng hơn là sự xuất hiện liên tục những dịch vụ mới. Thể hiện rõ nét nhất ở dịch vụ điện thoại di động, từ thế hệ thứ nhất theo kỹ thuật Analog sang đầu thập niên 90 đã chuyển sang thế hệ thứ hai là kỹ thuật số, hiện nay trong những năm đầu của thế kỷ 21 người ta đang nói đến thế hệ điện thoại di động thứ ba có thể truy cập internet hết sức dễ dàng, mọi lúc mọi nơi. Những đặc điểm này tạo ra những nét đặc thù để phân biệt ngành dịch vụ với các ngành khác.3 Khái niệm về dịch vụ truyền hình Khái niệm về dịch vụ truyền hình đang ngày càng trở nên quen thuộc và phổ biến trong cuộc sống hiện đại.
Dịch vụ truyền hình không chỉ đơn thuần là các kênh truyền hình truyền thống nữa, mà rộng hơn là các nền tảng trực tuyến hoặc ứng dụng giải trí số có thể xem trên điện thoại di động hoặc máy tính bảng. 10 Dịch vụ phát thanh, truyền hình được định nghĩa tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 06/2016/NĐ-CP quy định quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình như sau: “Dịch vụ phát thanh, truyền hình là một dịch vụ viễn thông được áp dụng để cung cấp đầy đủ các kênh chương trình trong nước, cũng như các kênh chương trình quốc tế và các dịch vụ giá trị gia tăng thông qua hạ tầng kỹ thuật phát thanh, truyền hình. Dịch vụ này có thể được cung cấp trực tiếp cho người sử dụng (dịch vụ phát sóng trực tuyến) hoặc theo yêu cầu cụ thể của khách hàng (dịch vụ phát sóng theo yêu cầu) mà không cần sử dụng thiết bị lưu trữ hoặc bị chậm trễ. Truyền hình là hệ thống viễn thông có thể thu tín hiệu qua sóng vô tuyến hoặc cáp và chuyển đổi thành hình ảnh, âm thanh (radio, tivi), là loại hình đài truyền hình truyền tải nội dung chính bằng hình ảnh rõ nét và âm thanh đi kèm.
Truyền hình là một hệ thống viễn thông điện tử có khả năng thu các tín hiệu sóng, tín hiệu qua dây cáp để chuyển đổi thành âm thanh và hình ảnh (radio, tivi) và là loại thiết bị phát sóng truyền hình chủ yếu truyền tải nội dung với âm thanh và hình ảnh sống động đi kèm.” Với sự phát triển của công nghệ, dịch vụ truyền hình ngày càng đa dạng và phong phú, nơi mà người dùng có thể lựa chọn và trải nghiệm nhiều chương trình giải trí, phim ảnh, tin tức, thể thao, và nhiều hơn nữa. Khái niệm về dịch vụ truyền hình không chỉ dừng lại ở việc cung cấp những nội dung giải trí mà còn là cách để kết nối cộng đồng, chia sẻ thông tin và kiến thức (Leung và Chen, 2017). Dịch vụ truyền hình cũng đem lại những lợi ích rất lớn cho người dùng, giúp họ thoải mái giải trí tại nhà sau một ngày làm việc căng thẳng. Đồng thời, dịch vụ truyền hình còn là nguồn thông tin hữu ích giúp mọi người cập nhật tin tức nhanh chóng và chính xác (Leung và Chen, 2017).
Thị trường truyền hình OTT ở Việt Nam ngày càng sôi động với sự xuất hiện của nhiều nhà cung cấp dịch vụ đa dạng. Các ứng dụng như Netflix, YouTube, ĨQIYI đã 11 thu hút một lượng lớn người dùng, đặc biệt là giới trẻ, nhờ vào nội dung đa dạng và chất lượng. Việc sử dụng truyền hình OTT không chỉ mang lại trải nghiệm giải trí tốt mà còn đóng góp vào việc thúc đẩy ngành công nghiệp sáng tạo và công nghệ của đất nước (Nguyễn Long và các cộng sự, 2022). Một trong những ảnh hưởng lớn nhất của truyền hình OTT đối với nền kinh tế Việt Nam là khả năng tạo ra việc làm và thu nhập cho nhiều người.
Với sự gia tăng của nhu cầu xem truyền hình trực tuyến, các công ty cung cấp dịch vụ OTT ngày càng tăng cường đầu tư vào nội dung và công nghệ. Điều này không chỉ tạo ra cơ hội việc làm mới trong ngành truyền thông mà còn giúp tăng cường thu nhập cho người lao động, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của đất nước (Nguyễn Long và các cộng sự, 2022). Ngoài ra, truyền hình OTT cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch và quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam. Việc truyền bá thông điệp du lịch thông qua các video, chương hình truyền hình trực tuyến giúp thu hút du khách quốc tế đến Việt Nam, tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn cho ngành du lịch.