chương I nhằm nên các vấn đề tổng quát của luận văn bao gồm tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa thực tiễn kỳ vọng mà luận văn hướng đến. download by : skknchat@gmail.com 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ M HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số vấn đề cơ bản về tín dụng 2. Khái niệm về tín dụng Khái niệm tín dụng là một từ trong chữ Latin là creditium- sự tin tưởng, tự tín nhiệm.
Theo đó hoạt động tín dụng sẽ xuất phát trên cơ sở sự tin tưởng giữa chủ thể người cho vay và người được cho vay. Trong hệ thống ngân hàng, tín dụng là một nghiệp vụ kinh doanh mang lại phần lớn nguồn thu nhập cho ngân hàng và nó quyết định tới sự thành công hay thất bại của ngân hàng trên thị trường. Dưới góc độ của ngân hàng thì tín dụng được hiểu như là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa người cho vay và người vay trong đó người cho vay chuyển giao tài sản cho người vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, người vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho người cho vay khi đến hạn than toán. Trong quan hệ giao dịch giữa người cho vay và người đi vay thể hiện các nội dung sau: Người cho vay hay còn gọi là trái chủ chuyển giao cho người đi vay hay còn gọi là người thụ trái một giá trị nhất định.
Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như hàng hóa, máy móc, thiết bị bất động sản. Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả lại cho người cho vay có kèm theo phần giá trị tăng lên gọi là lãi. (Đồng Thị Vân Hồng, 2010) Cũng theo Arnon (2010), trong quan hệ tín dụng ngân hàng, người đi vay có trách hoàn trả tiền vay vô điều kiện khi đến hạn trả nợ. Tuy nhiên, về mặt pháp lý thì cơ sở của việc hoàn trả vô điều kiện này chính là các hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ, các giấy tờ có giá khác.
Trên thực tế, tín dụng có nghĩa rộng hơn cho vay. Nhưng trong lĩnh vực ngân hàng, tín dụng nhiều khi được hiểu là cho vay bởi vi cho vay là một nội dung lớn của những quan hệ tín dụng mà trong đó ngân hàng tham gia. Chính việc sử dụng số download by : skknchat@gmail.com 9 tiền huy động được từ các thành phần kinh tế có hiệu quả hay không, tức là việc cho vay hiệu quả sẽ quyết định uy tín của ngân hàng để từ đó các chủ thể có vốn nhàn rỗi quyết định gửi tiền vào ngân hàng. Vì vậy, tín dụng được hiểu là cho vay, tín dụng theo hạn mức được hiểu là cho vay theo hạn mức.
Mối quan hệ trong tín dụng cơ bản được thể hiện như trong sơ đồ sau đây: Gốc : Tiền hoặc tài sản Người cho vay Người được cho vay Gốc và lãi Hình 2.1: Mối quan hệ tín dụng Nguồn: Đồng Thị Vân Hồng (2009) 2. Vai trò của tín dụng Theo Phạm Thị Cúc (2008), Tín dụng Ngân hàng là một kênh vốn quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.Trước những chuyển biến trong điều kiện kinh tế thị trường tín dụng Ngân hàng là công cụ đòn bẩy thúc đẩy mạnh mẻ phát triển kinh tế hàng hóa hình thành và góp phần giữ vững ổn định kinh tế thị trường. Thứ nhất: Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất được liên tục, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh dịch vụ cho hộ nông dân: Vai trò quan trọng nhất của tín dụng Ngân hàng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các hộ có nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các thành phần kinh tế trong xã hội, từ đó làm cho các chủ thể kinh tế này phải đẩy mạnh tốc độ sản xuất download by : skknchat@gmail.com 10 cũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm. Trong vai trò trung gian này, ngân hàng thương mại thật sự là người bạn đồng hành của nông dân, vì hệ thống Ngân hàng hiện nay mở rộng mạng lưới khắp nơi, các hình thức tín dụng đa dạng không những thỏa mản nhu cầu về vốn mà còn làm cho sự tiếp cận nguồn vốn tín dụng và các tiện ích trở nên dễ dàng, tiết kiệm được chi phí giao dịch, quỹ thời gian, giảm bớt chi phí nguồn vốn cho nông dân (Phan Thị Thu Hà, 2007).
Một mặt tập trung vốn đầu tư các dự án trung và dài hạn nhằm cơ giới hoá, hiện đại hóa trong nông nghiệp, mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng suất sản lượng sản phẩm nông nghiệp Về hiệu quả kinh tế là vấn đề quan trọng đối với hộ sản xuất và là mục tiêu chính của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam. Vì vậy tín dụng cho nông dân sản xuất phải đáp ứng nhu cầu kịp thời về vốn đặt biệt chú trọng tạo điều kiện cho nông dân thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu sản xuất mới với hình thức chuyên môn hóa theo vùng quy hoạch sản xuất hàng hóa có giá trị kinh tế cao cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu, đồng thời tạo cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ hiện đại có khả năng chống lại thiên tai, dịch bệnh đưa sản xuất nông nghiệp từng bước thoát khỏi sự ảnh hưởng của thiên nhiên. Thứ hai: Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và những ngành kinh tế mũi nhọn: Theo điều tra dân số và nhà ở do tổng cục thống kê phát hành năm 2014, Việt Nam là một quốc gia có hơn 0% dân số sinh sống tại nông thôn, vì vậy việc phát triển sản xuất nông nghiệp đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Nông nghiệp là ngành sản xuất đáp ứng nhu cầu cần thiết cho xã hội trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và là ngành chịu tác động nhiều nhất.
Vì vậy, trong giai đoạn tới nhà nước phải tập trung đầu tư vào phát triển nông nghiệp để giải quyết những nhu cầu tối thiểu của xã hội, tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế khác. Cần tập trung tín dụng tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn, sẽ tạo cơ sở cho việc lôi cuốn các ngành kinh tế khác như xuất khẩu, khai thác dầu khí. cùng phát triển. Thứ ba: Thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất: Hoạt động của Ngân hàng là tập trung vốn tiền nhàn rỗi tạm thời chưa sử dụng, vốn này nằm ở khắp nơi, trong tay cá nhân, các doanh nghiệp, cơ quan nhà download by : skknchat@gmail.com 11 nước, các đơn vị kinh tế.
Tuy nhiên, quá trình đầu tư tín dụng không phải rải điều cho mọi cho mọi chu thể mà việc đầu tư được thực hiện một cách tập trung chủ yếu là các xí nghiệp lớn, khả năng tài chính mạnh, phương án sản xuất kinh doanh khả thi và kinh doanh có hiêu quả đảm bảo trả nợ vay đúng hẹn trong hợp đồng đã thỏa thuận vừa đảm bảo tránh rủi ro, vừa thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Thứ tư: Tạo điều kiện phát triển hợp tác kinh tế với các đối tác nước ngoài: Trong điều kiện ngày nay, phát triển của một nước luôn gắn liền với thị trường thế giới, kinh tế “đóng” đã nhường bước cho kinh tế “mở”. Vì vậy, tín dụng Ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền các nền kinh tế các nước với nhau. Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín dụng đóng vai trò quan trong trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hóa, đồng thời nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp hóa - hiên đại hóa nền kinh tế. Phân loại tín dụng + Căn cứ vào mục đích Dựa vào căn cứ này cho vay thường được chia ra làm các loại sau: cho vay bất động sản; cho vay công nghiệp và thương mại; cho vay nông nghiệp; cho vay cá nhân; ngoài ra còn có cho thuê tài chính và các dạng khác.
+ Căn cứ vào thời hạn cho vay Theo căn cứ này cho vay được chia ra làm 3 loại bao gồm cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn. Sự khác nhau của 3 loại này cơ bản chính ở thời hạn cho vay và đối tương cho vay. Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời han dưới 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vố lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Đối với các ngân hàng thương mại, tín dụng ngắn hạn là loại chiếm tỷ trọng cao nhất.
Cho vay trung hạn là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm đối với Việt Nam và đối với các nước trên thế giới thì có thời hạn đến 7 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiệt bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kin doanh, xây dựng các dự án mới có qui mô nhỏ và thời gian download by : skknchat@gmail.com 12 thu hồi vốn nhanh. Trong nông nghiệp, chủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng sau: máy cày, máy bơm nước, xây dựng các vườn cây công nghiệp như cây cà phê, điều. Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm đối với Việt Nam và trên 7 năm đối với các nước trên thế giới.
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. + Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng Theo căn cứ này thì cho vay được chia làm 2 loại bao gồm cho vay không đảm bảo và cho vay có đảm bảo. Sư khác nhau của 2 loại này đến từ tính chất có hoặc không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba để ngân hàng cấp tín dụng. + Căn cứ vào hình thái tín dụng Theo căn cứ vào hình thái tín dụng thì cho vay được chia thành hai loại là cho vay bằng tiền và cho vay bằng tài sản.