chương 1 đã trình bày tính cấp thiết và lý do chọn đề tài “Những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của GenZ tại các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”. Tác giả còn đưa ra mục tiêu tổng quát cũng như cụ thể cho nghiên cứu, các nội dung khác như vấn đề nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu được áp dụng cũng được trình bày một cách chi tiết. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết về thẻ tín dụng 2.
Khái niệm GenZ GenZ là nhóm người thuộc một phần của thế hệ mới được sinh ra bắt đầu từ năm 1997 đến năm 2012 và hầu hết vẫn còn ở độ tuổi thiếu niên. Gen Z nổi bật với sự thành thạo kỹ thuật số, dành nhiều thời gian trực tuyến và có xu hướng cởi mở, toàn cầu hóa và coi trọng tính bền vững cũng như công bằng xã hội (McKinsey, 2023). Khái niệm thẻ tín dụng “Thẻ tín dụng là loại thẻ mà một ngân hàng, tập đoàn ngân hàng hay một tổ chức nào đó cung cấp cho khách hàng, cho phép khách hàng có quyền nhận được tín dụng hoặc quyền rút tiền mặt từ ngân hàng theo những điều kiện nhất định” (Nguyễn Văn Ngọc, 2006, trang 503). Người sở hữu thẻ tín dụng có thể sử dụng thẻ tín dụng cho các giao dịch thanh toán mua hàng hóa và dịch vụ, người bán sẽ được đảm bảo là ngân hàng hay tổ chức phát hành thẻ thanh toán tiền mua hàng cho họ một cách nhanh chóng.
Thông thường, khách hàng sở hữu thẻ tín dụng có quyền được rút tiền hoặc chi tiêu trong phạm vi hạn mức được cho phép theo quy định của tổ chức phát hành và tổ chức đó sẽ tính lãi suất mà khách hàng cần trả căn cứ dựa trên số tiền mà họ đã sử dụng và trong thời hạn quy định. Theo khoản 3 điều 3 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN có quy định về thẻ tín dụng là “Loại thẻ cho phép người sở hữu thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp dựa vào thỏa thuận”. Có thể nói “việc phát hành thẻ tín dụng là một hình thức của việc cho vay với hình thức khác so với thông thường từ các ngân hàng hay tổ chức tín dụng. Người sử dụng thẻ tín dụng có thể thanh toán toàn bộ hay một phần các hóa đơn mỗi tháng và đồng thời hỗ trợ chi trả cho số dư cần được thanh toán của họ” (Center for Financial Training, 2009).
Khái niệm thẻ tín dụng tại Việt Nam đã được tác giả Nguyễn Đăng Dờn (2014) khái quát một cách khá đầy đủ và chi tiết tại giáo trình nghiệp vụ ngân hàng thương mại. Theo như tác giả, “Thẻ tín dụng là loại thẻ áp dụng cho những khách hàng có đủ điều kiện được ngân hàng phát hành thẻ cho vay vốn để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ sau khi ký hợp 9 đồng tín dụng với một hạn mức tín dụng” (Nguyễn Đăng Dờn, 2014, trang 254). Tác giả Nguyễn Đăng Dờn cũng cho biết thẻ tín dụng được phân chia thành 2 loại gồm thẻ tín dụng nội địa và quốc tế. Tuy nhiên, tùy vào từng mục đích sử dụng theo nhu cầu khách hàng mà TTD có khả năng được chia thành nhiều dạng khác nhau.
Ngày nay, xuất hiện khá nhiều định nghĩa về thẻ tín dụng được đưa ra từ các nghiên cứu khoa học, các bài báo học thuật, các văn bản nội bộ từ các ngân hàng hay các tổ chức tài chính,… tuy nhiên có thể hiểu rằng thẻ tín dụng là phương thức chi tiêu mà các tổ chức ngân hàng cấp cho đối tượng đủ điều kiện cho phép họ thanh toán các chi tiêu trong hạn mức được cấp đã thỏa thuận với đặc điểm dễ nhận biết của TTD là “chi tiêu trước, thanh toán sau” hỗ trợ khách hàng chủ động hơn trong việc quản lý tài chính của cá nhân. Vai trò của thẻ tín dụng Ở thời điểm hiện tại, với xu hướng thanh toán không sử dụng tiền mặt chúng ta thể dễ dàng sử dụng thẻ tín dụng để thực hiện thanh toán trực tuyến từ trong đến ngoài nước. Đặc biệt hơn, ngày một có nhiều khách hàng là GenZ tham gia vào thị trường thẻ tín dụng. Cũng theo xu thế đó, do khối lượng khách hàng ngày càng tăng, thế nên các NHTM đang tích cực cho ra mắt nhiều dòng sản phẩm có tính cạnh tranh, thu hút khách hàng GenZ bởi các gói ưu đãi như tích điểm hoàn tiền, chiết khấu sản phẩm và dịch vụ, miễn phí phí thường niên, trả góp với lãi suất 0%,… Vì đặc tính “chi tiêu trước thanh toán sau” mà chủ thẻ có thể dễ dàng quản lý và lựa chọn cho mình một mức thanh toán tối thiểu để hưởng số ngày miễn lãi mà ngân hàng cấp cho khách hàng (thông thường sẽ từ 45 – 55 ngày) cho các khoản chi tiêu từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn về việc cân đối nguồn tài chính cá nhân một cách hợp lý.
Chính vì những tiện ích không thể bỏ qua đó, thẻ tín dụng đang ngày càng khẳng định được vai trò trong thị trường thẻ tại Việt Nam. Đối với chủ sở hữu, thẻ tín dụng là công cụ chi trả tiện lợi trong việc mua sắm và tạo điều kiện làm tăng khả năng mua sắm mà không cần băn khoăn về việc lên kế hoạch chi tiêu trước hay phải thanh toán một số tiền trước cho người bán, nhờ đó sẽ tiết kiệm thời gian mua sắm của khách hàng. Chủ thẻ sẽ sẵn sàng thanh toán các hóa 10 đơn mà không cần mang theo quá nhiều tiền mặt bên người và đa dạng hơn về hình thức thanh toán như quẹt thẻ ở các cửa hàng chấp nhận máy POS, thanh toán trực tuyến thông qua các ứng dụng điện tử hoặc liên kết trung gian với bên thứ ba. Chủ thẻ có thẻ lựa chọn việc thanh toán một phần hoặc toàn bộ hóa đơn.
Hơn thế nữa với những người có tâm lý e ngại việc đến trực tiếp ngân hàng làm thủ tục vay thì sử dụng TTD là lựa chọn được đánh giá cao bởi đa số khách hàng. Đối với các ngân hàng, thẻ tín dụng là phương tiện tối ưu để thu hút khách hàng và mang lại nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng. Cá ngân hàng kiếm lời từ việc thu lãi suất và các loại phí từ thẻ tín dụng. Lĩnh vực thanh toán thẻ là một lĩnh vực mang đầy tính cạnh tranh và thách thức đối với các ngân hàng, yêu cầu cao việc các ngân hàng phải luôn cải tiến để tạo ấn tượng với khách hàng mở rộng thị phần tăng thêm thu nhập cho ngân hàng.
Tỷ lệ thu nhập thu được từ sản phẩm thẻ tín dụng có thể bù đắp cho những hoạt động sinh lời kém như kinh doanh từ các tài khoản vãng lai. Từ những tiện ích của TTD mà người sử dụng quan tâm, tổ chức ngân hàng có thể nắm bắt được xu thế chi tiêu của khách hàng thông qua lịch sử tín dụng của chủ thẻ, làm cơ sở để đề ra các chính sách ưu đãi thích hợp cho từng đối tượng khách hàng. Đối với nền kinh tế, thẻ tín dụng là phương thức chi tiêu giúp làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông và thúc đẩy chi tiêu của người tiêu dùng nhờ vào việc thanh toán dễ dàng. Thanh toán bằng thẻ tín dụng làm giảm bớt các giao dịch thủ công, tiếp cận gần hơn với công cụ thanh toán hiện đại đang được phát triển trên toàn thế giới, mở ra cơ hội thu hút khách du lịch nước ngoài và các nhà đầu tư vào thị trường kinh tế Việt Nam.
Thuyết hành vi người tiêu dùng. Nhận Đánh giá Hành vi Tìm kiếm Ra quyết dạng nhu các lựa sau khi thông tin định cầu chọn mua Hình 2.1 Quy trình ra quyết định 11 Trải qua quá trình nghiên cứu, lý thuyết về hành vi khi NTD ra quyết định sử dụng sản phẩm/dịch vụ của Philip Kotler (2001) cho rằng “một khách hàng để đưa ra được quyết định mua thường trải qua 5 giai đoạn từ nhận thức nhu cầu đến hành động mua hàng” theo như hình 2.1, trong đó: Nhận dạng nhu cầu: Xuất phát từ chính nhận thức của người tiêu dùng, khi họ nhận biết được vấn đề hay mong muốn của chính họ. Nhu cầu có thể nhanh chóng được nhận biết khi có sự tác động bởi những yếu tố bên ngoài như sự khuyến khích từ gia đình, đề nghị từ bạn bè hay bắt kịp với xu hướng từ những người xung quanh. Tìm kiếm thông tin: Sau khi có nhận thức về nhu cầu mua, người dùng bắt đầu tiến hành tìm kiếm những thông tin từ cơ bản đến chuyên sâu thông qua nhiều nguồn khác nhau về sản phẩm và dịch vụ.
Một số nguồn thông tin mà khách hàng có thể truy cập và tra cứu một cách dễ dàng như nguồn thông tin thương mại (quảng cáo, triển lãm…), từ cá nhân (bạn bè, gia đình, hàng xóm…), từ những kinh nghiệm trong thực tế (qua các nghiên cứu, qua tiếp xúc, trải nghiệm sản phẩm.), nguồn trên các phương tiện đại chúng. Việc tìm kiếm thông tin phụ thuộc vào hoàn cảnh và vấn đề để đưa ra mức độ cần thiết khác nhau. Trong trường hợp nhu cầu của khách hàng có tính cấp bách, khi tìm kiếm được sản phẩm phù hợp với nhu cầu họ có thể sẽ đưa ra quyết định mua ngay. Trong tình huống ngược lại, người tiêu dùng cho rằng vấn đề mua quan trọng nhưng chưa tìm được đầy đủ thông tin hay sản phẩm thích hợp họ sẽ trì hoãn việc đưa ra quyết định mua để tra cứu thêm các thông tin khác.
Đánh giá các lựa chọn: Từ những thông tin thu thập được từ tất cả các nguồn có thể tìm kiếm, người tiêu dùng sẽ có những đánh giá chủ quan để tìm ra sản phẩm/dịch vụ phù hợp nhất dựa trên những đặc điểm của sản phẩm/dịch vụ và lợi ích mà nhà cung cấp đem lại. Cơ sở đánh giá của mỗi cá nhân sẽ có sự khác nhau tùy vào tiêu chí, sở thích, nhu cầu hay khả năng của mỗi người. Ra quyết định mua: Sau các bước đánh giá kỹ lưỡng, phân tích ưu và nhược điểm của mỗi phương án, người tiêu dùng sẽ tiến hành việc mua sắm của họ. Có 4 khả năng có thể xảy ra trong giai đoạn này: − NTD quyết định chọn mua đúng sản phẩm sau khi được tư vấn.
12 − NTD thay đổi sản phẩm/dịch vụ thay thế sau khi được tư vấn. − NTD quyết định từ chối mua sản phẩm/dịch vụ sau khi được tư vấn.