MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài. Trong thời đại công nghệ 4.0, phương thức dựa trên nền tảng tài chính công nghệ (Financial Technology - Fintech) đang trên đà phát triển và trở thành một trong những xu hướng mới trên thị trường. Thị trường Thương Mại Điện Tử ở nước ta có xu hướng tăng dần đều ở những năm 2014 đến nay và bùng nổ vào năm 2019. Nhu cầu về thanh toán trực tuyến đang ngày cấp thiết bởi sự phát triển của thương mại điện tử, tính tiện lợi của việc không sử dụng tiền mặt cùng các công nghệ an toàn, thuận tiện cho người sử dụng đã tạo ra sự bùng nổ về các phương pháp thanh toán trực tuyến bao gồm cả ví điện tử.
Có thể thấy thị trường Việt Nam là một thị trường tiềm năng cho sự phát triển của ví điện tử, bởi vì nhóm người trẻ là nhóm người rất dễ dàng tiếp cận và chấp nhận sử dụng công nghệ mới. Điều này được công nhận qua tốc độ tăng trưởng số lượng ví điện tử. Theo thống kê của Vụ Thanh toán – NHNN, cuối năm 2009 có khoảng 70.000 VĐT được mở, và đến cuối Quý II/2021 con số này đã lên đến hơn 546.000, tăng gần 8 lần sau 1 năm rưỡi. Lượng giao dịch qua các doanh nghiệp cung ứng ví điện tử đạt hơn 1,5 triệu lượt với tổng giá trị giao dịch hơn 3.400 tỷ đồng bình quân khoảng 2,3 triệu đồng/giao dịch và tính đến hết năm 2012 tổng số lượng VĐT được phát hành bởi các tổ chức này là hơn 1,3 triệu phí số lượng giao dịch đạt hơn 16 triệu với trị giá gần 5.
Điều này chứng tỏ ví điện tử là phương thức thanh toán phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân trong thanh toán trực tiếp nói riêng và thanh toán điện tử nói chung. Theo kết quả điều tra khảo sát năm 2014 của Cục Thương mại Điện tử và Công nghệ Thông tin, giá trị mua hàng trực tuyến của một người trong năm ước tính đạt khoảng 145 USD và doanh số thu từ thương mại điện tử B2C đạt khoảng 2.97 tỷ USD, chiếm 2.12 % tổng mức bán lẻ hàng hóa cả nước. Ngoài ra, theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, giá trị giao dịch qua ví điện tử năm 2016 đạt 53.109 tỷ đồng, tăng tới 64% so với năm 2015. Công ty CP Thanh toán quốc gia Việt Nam (Napas) cho hay, trong vòng 5 năm trở lại đây, giá trị giao dịch qua POS tăng gần 600%, doanh số thanh toán trực tuyến tại các điểm chấp nhận thẻ tăng hơn 350%,.Trong năm 2019, ngành Thương Mại Điện Tử đã có sự tăng trưởng vượt bậc, thu về 2.7 tỷ USD và đã có hơn 35.4 triệu người sử dụng.
Điều này cho thấy vai trò quan trọng của Thương Mại Điện tử trong quá trình phát triển kinh trêm toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt đề án phát triển việc thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2016-2020 với mục tiêu đến cuối năm 2020, tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán ở mức thấp hơn 10%. Điều này có nghĩa là thời gian tới, thương mại điện tử hay thanh toán trực tuyến sẽ là mảnh đất màu mỡ để phát triển. Tính đến cuối tháng 5/2021, tại Việt Nam có 43 tổ chức không phải ngân hàng đã được cấp giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, trong đó có 40 tổ chức trung gian thanh toán có hoạt động cung ứng dịch vụ ví điện tử với tổng số tài khoản ví điện tử đang hoạt động là khoảng 14,59 triệu (tăng khoảng 0,94 triệu ví so với thời điểm cuối năm 2020).
Việc ứng dụng Thương Mại Điện Tử vào hoạt động sản xuất kinh doanh là xu thế tất yếu đối với quốc gia, doanh nghiệp và cá nhân trong thời đại hiện nay. Sớm nhận thức được khả năng phát triển kinh tế tiềm năng bởi thị trường Thương Mại Điện Tử, năm 2008 nhà nước đã cấp phép hoạt động thí điểm Ví Điện tử. Và được đánh giá là một trong những phương thức thanh toán trực tuyến an toàn, tiện lợi, phù hợp với điều kiện công nghệ và nhu cầu của người tiêu dùng Việt Nam. Vì vậy, vấn đề đặt ra là thị trường Thương Mại Điện Tử ngày càng phát triển không những tại Việt Nam mà còn trên cả thế giới.
Với một thị trường tiềm năng tại Việt Nam đã có rất nhiều ví điện tử ra đời như: Viettelpay, ZaloPay, Momo, VTC Pay, ShopeePay, … Và ví điện tử được sử dụng ngày càng phổ biến, rộng rãi nhất là đối với các bạn trẻ. Vậy mức độ tiếp cận, sử dụng của sinh viên với ví điện tử thì sao? Nắm bắt được vấn đề trên nhóm 1 nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định lựa chọn sử dụng ví điện tử của sinh viên”. Từ đó nhằm khảo sát mức độ sử dụng Ví Điện Tử của sinh viên làm cơ sở cho doanh nghiệp, nhà quản trị đưa ra giải pháp giúp phát triển bền vững thị trường Ví Điện Tử tại Việt Nam.2 Tuyên bố đề tài nghiên cứu Đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định lựa chọn sử dụng ví điện tử của sinh viên.3 Tổng quan nghiên cứu 1.1 Tài liệu trong nước Với tác phẩm “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng ví điện tử đối với sinh viên” (2021) nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định ví điện tử của sinh viên Việt Nguyễn Phạm Thanh Phương đã tiến hành điều tra khảo sát bằng bảng câu hỏi kết quả thu về có 214 bảng câu hỏi hợp lệ, dữ liệu được phân tích qua phần mềm SPSS 20.0 cho thấy 4 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục sử dụng ví điển tử của sinh viên hiện nay bao gồm: Hữu ích, dễ sử dụng, niềm tin và thông tin. Nguyễn Hà Khiêm với tác phẩm “So sánh chất lượng dịch vụ của ví điện tử MoMo, ZaloPay, Aripay” (2018) trong quá trình phân tích nhu cầu sử dụng ví điện tử và so sánh chất lượng dịch vụ của 3 ví MoMo, ZaloPay, Aripay để chứng minh sự phù hợp của từng yếu tố trong thang đo.
Nguyễn Hà Khiêm sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để có thể đo lường trên thang đo E-SEVERQUAL. Bằng phần mềm phân tích dữ liệu SPSS cho thấy có 7 yếu tố tác động đến chất lượng dịch vụ của ví điện tử đó là hiệu quả, mức độ cam kết thực hiện, sự tin cậy, bảo mật, sự phản hồi, bồi thường và liên hệ. Dựa trên 3 ví MoMo, Zalopay, Aripay để so sánh chất lượng dịch vụ kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu qủa tác động lớn nhất đối với cảm nhận về chất lượng dịch vụ. Với luận văn “Nghiên cứu đến yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử tại Việt Nam” (2013), Nguyễn Thị Linh Phương dựa trên thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) với 4 yếu tố tác động chính đó là hữu ích mong đợi, dễ sử dụng mong đợi, điều kiện thuận lợi và gồm 3 yếu tố bổ sung đó là tin cậy cảm nhận, chi phí cảm nhận, hỗ trợ chính phủ.
Từ đó đề ra những giải pháp đúng đắn để nâng cao chất lượng, dịch vụ, thu hút được nhiều người sử dụng, kịp thời nhằm quản lí ban hàng các quy định, chính sách phù hợp, kịp thời nhằm quản lí và hỗ trợ cho sự phát triển của thị trường ví điện tử Việt Nam góp phần thúc đẩy sự phát triển của TMĐT và giảm tỉ lệ tiền mặt trong thanh toán theo chủ trương chung của nhà nước để phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế. Theo Tạp Chí Khoa học và Công Nghệ số 50,2021 của Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Thành Long đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử MoMo khi mua sắm trực tuyến của sinh viên Đại Học Công Nghiêp TPHCM trong đề tài “Những yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử MoMo khi mua sắm trực tuyến của sinh viên Đại học Công Nghiệp TPHCM”. Kế thừa từ các mô hình nghiên cứu trước đó nhóm tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử MoMo bao gồm nhận thức hữu ích, nhận thức dễ sử dụng, nhận thức riêng tư/bảo mật, ảnh hưởng đến xã hội và niềm tin vào ví điện tử MoMo. Sử dụng thang đo Likert và phương pháp hồi quy kết quả cho thấy rằng ba yếu tố nhận thức hữu ích, ảnh hưởng xã hội và niềm tin vào ví điện tử MoMo có tác động đến biến phụ thuộc.
Từ đó đề xuất một số hàm ý quản trị giúp các doanh nghiệp có chính sách nhằm nâng cao ý định sử dụng ví MoMo của sinh viên. Bùi Nhất Vượng tác giả đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử của người dân tại Thành Phố Cần thơ trên tạp chí Khoa Học Trường Đại học Cần Thơ” (2021) đã khám phá ra yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử thông qua vai trò trung gian của thái độ đối với dụng sản phẩm. Dữ liệu được thu thập là 201 đáp viên có hiểu biết về điện tử Momo, ZaloPay, AirPay, ViettelPay tại thành phố Cần Thơ, đã được phân tích để cung cấp bằng chứng. Kết quả từ mô hình phương trình cấu trúc bình phương nhỏ nhất một phần (PLS-SEM) chỉ ra rằng nhận thức uy tín, điều kiện thuận lợi, hiệu quả kì vọng và ảnh hưởng xã hội có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng ví điện tử.
Bên cạnh đó, nghiên cứu thông qua vai trò trung gian của khách hàng để dự đoán ý định sử dụng ví điện tử của người tiêu dùng, cụ thể biến hiệu quả mong đợi và ảnh hưởng xã hội chỉ tác động gián tiếp đến ý định sử dụng ví điện tử, nhận thức uy tín đã tác động trực tiếp và gián tiếp đến ý định sử dụng ví điện tử và điều kiện thuận lợi chỉ tác động gián tiếp đến ý định sử dụng ví điện tử 1.2 Tài liệu nước ngoài Teo Siew Chein và cộng sự trong tài liệu nghiên cứu “Factors Affecting Adoption of E-Wallets Among Youths in Malaysia” (2020). Đã nghiên cứ mức độ chấp nhận sử dụng ví điện tử của giới trẻ ở Malaysia đồng thời cũng xem xét các yếu tố thúc đẩy họ thích nghi với việc triển khai và phát triển ví điện tử tại Malaysia vào cuối năm 2020. Nghiên cứu này đã sử dụng mô hình TAM với các yếu tố như ảnh hưởng từ xã hội và an ninh qua đó đánh giá thái độ của giới trẻ Malaysia đối với việc sử dụng ví điện tử.