mở đầu và cũng là khâu kết thúc của quá trình tái sản xuất xã hội. Các phương thức thanh toán qua Ngân hàng: có 2 phương thức - Một là Thanh toán bằng tiền mặt. Thanh toán bằng tiền mặt là việc chi trả trực tiếp bằng tiền mặt trong các quan hệ thanh toán thu chi giữa nhân dân với nhau, giữa các xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước với nhân dân. Thanh toán bằng tiền mặt chủ yếu phục vụ cho các mối quan hệ kinh tế, giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhà nước, các xí nghiệp, tổ chức kinh tế với người lao động.
Việc thanh toán bằng tiền mặt nói chung để phục vụ các quan hệ giao dịch nhỏ, lẻ hoặc không có điều kiện thanh toán qua ngân hàng. - Hai là Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) hay còn gọi là thanh toán qua ngân hàng. TTKDTM là các quá trình tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán không trực tiếp bằng tiền mặt mà thực hiện bằng cách trích chuyển trên các tài khoản ở Ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc bù trừ lẫn nhau giữa những người phải thanh toán và những người thụ hưởng.2 Đặc điểm của TTKDTM - Một là: Sự vận động của tiền và hàng luôn có sự tách rời về không gian và thời gian. Việc thanh toán không phải thực hiện bằng cách trao đổi trực tiếp tiền – hàng giữa người mua và người bán mà được thực hiện bằng cách trích chuyển từ tài khoản tiền gửi của người mua sang tài khoản tiền gửi của người bán trước hoặc sau khi hàng hóa được vận chuyển từ người bán tới người mua.
- Hai là: Tiền tệ dùng trong TTKDTM là tiền ghi sổ hay bút tệ. Việc thanh toán được thực hiện bằng cách trích chuyển tiền từ tài khoản của người chi trả sang tài khoản của người thụ hưởng mở tài khoản tại Ngân hàng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau. Số tiền thanh toán là số tiền được ghi trên các chứng từ, dựa trên các chứng từ đó ngân hàng thực hiện thanh toán cho các bên có liên quan. - Ba là: Trong TTKDTM, mỗi món thanh toán phải có ít nhất 3 bên tham gia.
Các bên tham gia vào hoạt động TTKDTM bao gồm: Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (các NHTM, các tổ chức tín dụng khác và các tổ chức khác khi được NHNN cấp phép), Người trả tiền (Người mua), Người thụ hưởng (Người bán). Trong đó vai trò của Ngân hàng là rất to lớn, vừa là người tổ chức và thực hiện thanh toán.3 Vai trò của TTKDTM 1.1 Vai trò của TTKDTM đối với nền kinh tế - TTKDTM góp phần làm giảm tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông. TTKDTM phát triển có thể tiết kiệm được chi phí như in ấn, phát hành, bảo quản, vận chuyển, kiểm đếm… Mặt khác, TTKDTM còn tạo ra sự thông 123doc 7 suốt giữa tiền mặt và tiền chuyển khoản. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hóa và lưu thông tiền tệ.
- TTKDTM góp phần tăng cường hiệu lực quản lý của Ngân hàng. Các nghiệp vụ TTKDTM đều được lưu lại trên sổ sách kế toán tại ngân hàng, thông qua đó ngân hàng có thể kiểm soát được hoạt động của các đơn vị thuộc nhiều ngành kinh tế khác một cách dễ dàng. - TTKDTM góp phần chống thất thu thuế một cách có hiệu quả.2 Vai trò của TTKDTM đối với NHTW TTKDTM tăng cường hoạt động lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế, tăng cường vòng quay của đồng tiền, khơi thông các nguồn vốn khác nhau, tạo điều kiện quan trọng cho việc kiểm soát khối lượng giao dịch thanh toán của dân cư và của cả nền kinh tế. Qua đó thuận tiện cho việc tính toán lượng tiền và điều hành thực thi chính sách tiền tệ có hiệu quả.3 Vai trò của TTKDTM đối với NHTM - TTKDTM không những giảm được chi phí lưu thông mà nó còn bổ sung nguồn vốn cho ngân hàng thông qua hoạt động mở tài khoản thanh toán cho tổ chức và cá nhân.
Khách hàng mở tài khoản này với mong muốn ngân hàng đáp ứng kịp thời chính xác các yêu cầu thanh toán của họ chứ không phải mục đích kiếm lời. Tuy nhiên đối với séc bảo chi, thẻ tín dụng thì chủ tài khoản phải ký quỹ một lượng tiền tương ứng với giá trị của nó. Như vậy, Ngân hàng sẽ luôn có một lượng tiền nhất định tạm thời nhàn rỗi trên các tài khoản này với chi phí thấp. Nếu sử dụng tốt nguồn vốn này thì Ngân hàng (NH) không chỉ kiếm được lợi nhuận, giành thắng lợi trong cạnh tranh mà còn mang lại lợi ích rất lớn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- TTKDTM thúc đẩy quá trình cho vay. 123doc 8 Nhờ có nguồn vốn tiền gửi không kì hạn, NH có cơ hội để tăng lợi nhuận cho mình bằng cách cấp tín dụng cho nền kinh tế. NH thu hút được nguồn vốn với chi phí thấp nên trên cơ sở đó hạ lãi suất tiền vay, khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân vay vốn sản xuất kinh doanh, đầu tư vào kinh tế. - TTKDTM góp phần mở rộng đối tượng thanh toán, tăng doanh số thanh toán.
TTKDTM tạo điều kiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hiệu quả, an toàn, tin cậy, chính xác và tiết kiệm được thời gian, chi phí. Trên cơ sở đó tạo niềm tin cho công chúng vào hoạt động của hệ thống NH, thu hút người dân và doanh nghiệp thanh toán qua NH.4 Vai trò của TTKDTM đối với ngƣời sử dụng dịch vụ - Quá trình thanh toán nhanh hơn thanh toán bằng tiền mặt. TTKDTM nhanh hơn thanh toán bằng tiền mặt do không phải kiểm đếm tiền, vận chuyển tiền. Người hưởng có thể nhận được tiền ngay sau vài phút.
- Không phải quan tâm đến rủi ro trong quá trình vận chuyển tiền như trộm cắp, thiên tai, hỏa hoạn. - Khách hàng được trả lãi trên số dư tài khoản tiền gửi, được cung cấp các dịch vụ ngân hàng với nhiều ưu đãi.2 Sự cần thiết của TTKDTM trong nền kinh tế thị trƣờng. Phương tiện thanh toán tiền mặt là không thể thiếu, song ngày nay, thanh toán bằng tiền mặt không còn là phương tiện thanh toán tối ưu trong các giao dịch thương mại, dịch vụ nữa, đặc biệt là giao dịch có giá trị và khối lượng lớn như là việc chi trả thanh toán đối với các doanh nghiệp hoạt động trong nước và các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, hoạt động thương mại dịch vụ, hàng hóa xuyên biên giới. 123doc 9 Xét trên nhiều góc độ, khi hoạt động thanh toán trong xã hội còn thực hiện phổ biến bằng tiền mặt, nhất là trong thanh toán các khoản có giá trị lớn có thể dẫn đến một số bất lợi và rủi ro như: Chi phí của xã hội để tổ chức hoạt động thanh toán (như chi phí của Chính phủ cho việc in tiền; chi phí vận chuyển, bảo quản, kiểm, đếm tiền của hệ thống Ngân hàng, của các chủ thể tham gia giao dịch thanh toán) là rất tốn kém; luôn tiềm ẩn rủi ro và nguy hiểm trong quá trình vận chuyển.
Hơn nữa, việc thực hiện giao dịch thanh toán bằng tiền mặt với khối lượng lớn là môi trường cho tội phạm lưu hành tiền giả, dễ bị các đối tượng phạm pháp lợi dụng để buôn lậu, gian lận, trốn thuế… Trong giai đoạn nền kinh tế thị trường hiện nay, hệ thống Ngân hàng phát triển rất mạnh, cùng với sự phát triển của hệ thống Ngân hàng và những ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin, tự động hoá,. có rất nhiều hình thức TTKDTM tiện lợi trong giao dịch, an toàn đã và đang được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Các bất lợi và rủi ro trên đây là vấn đề xảy ra với bất kỳ quốc gia nào trong đó có Việt Nam. Song với các nước mà thanh toán bằng tiền mặt còn ở mức phổ biến trong xã hội, tình hình sẽ càng phức tạp và khó kiểm soát hơn. Vì vậy TTKDTM cần thiết đƣợc mở rộng vì những lí do sau đây: - Thứ nhất là TTKDTM phục vụ tích cực cho quá trình tái sản xuất, thực hiện sự tuần hoàn vốn tiền tệ, làm tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn cho nền kinh tế.
- Thứ hai là TTKDTM có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn , tích tụ các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, chưa sử dụng trong dân cư. - Thứ ba là TTKDTM còn giúp tăng cường sự kiểm tra lẫn nhau giữa các cá nhân, các tổ chức kinh tế. 123doc 10 - Thứ tư là TTKDTM giúp Ngân hàng trung ương quản lý, kiểm soát chặt chẽ, thường xuyên lượng tiền cung ứng cần thiết cho nền kinh tế. Sử dụng chính sách tiền tệ để quản lý lượng cung tiền trong nền kinh tế.
- Thứ năm là TTKDTM giúp Ngân hàng giảm bớt nguy cơ mất khả năng thanh toán - Thứ sáu là công tác TTKDTM càng phát triển bao nhiêu thì càng có ý nghĩa quan trọng trong việc tiết kiệm khối lượng tiền mặt trong lưu thông bấy nhiêu. - Thứ bẩy là TTKDTM an toàn, thuận lợi, nhanh chóng và chính xác. - Thứ tám là nâng cao sức cạnh tranh cho Ngân hàng qua việc nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán cho Ngân hàng, tạo nguồn thu nhập cho Ngân hàng trong việc thu phí dịch vụ, đồng thời tạo được nguồn vốn cho vay ngắn hạn.3 Các phƣơng thức TTKDTM Theo quyết định 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/3/2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về Quy chế Hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thì tồn tại các phương thức thanh toán qua Ngân hàng như sau: 1.1 Thanh toán bằng Lệnh chi hay Uỷ nhiệm chi (UNC) 1.1 Khái niệm Lệnh chi hay Ủy nhiệm chi (UNC) UNC (hoặc Lệnh chi) là phương tiện thanh toán mà người trả tiền lập lệnh thanh toán theo mẫu do Ngân hàng quy định, gửi cho Ngân hàng nơi mình mở tài khoản yêu cầu trích một số tiền nhất định trên tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng. 123doc 11 Thời gian thực hiện lệnh chi hay UNC do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thỏa thuận với người sử dụng dịch vụ thanh toán, Khi kiểm soát, hạch toán lệnh chi, các bên phải thực hiện đúng thời hạn đã quy định để đảm bảo thanh toán nhanh lệnh chi.
Trong quan hệ mua bán hàng hóa, người mua có thể dùng UNC để ứng trước tiền hàng cho người bán và cũng có thể thanh toán ngay sau khi nhận đủ hàng hóa, hoặc sau một thời gian nào đó. Việc dùng UNC đảm bảo thanh toán nhanh gọn, bảo vệ quyền lợi kinh tế cho người bán.