Chương I: Tổng quan Chương II: Cơ sở lý luận Chương III: Nội dung Chương IV: Kết luận và kiến nghị 5 Chương II CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Lịch sử nghiên cứu hoạt động tự học và các yếu tố liên quan đến hoạt động tự học 2. Trên thế giới 2. Hoạt động tự học Từ trước công nguyên, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục lỗi lạc cũng đề cập nhiều đến hoạt động tự học và tầm quan trọng của tự học.
Trong đó phải kể đến một số nhà nghiên cứu đã đưa ra những phương pháp, quan điểm mang tính thời đại liên quan đến hoạt động tự học sau đây: Khổng Tử (551 – 479 trước CN) với quan điểm trong dạy học là: “ Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa”. Cách dạy của ông mang tính gợi mở, người học trên nền tảng đó phải tự tìm hiểu, tự mở rộng, tự đào sâu. Nói cách khác, yêu cầu các học trò của ông phải tự suy luận trên nền cơ bản được thầy cung cấp. Nhà giáo dục Socrate (469 -339 TCN) có phương pháp giảng dạy khá đặc biệt gồm 2 phần: Phần hỏi và trả lời cho đến khi người đối thoại nhận thức là mình sai; Phần biện pháp, ông giúp người đối thoại hiểu và tự tìm lấy câu trả lời.
Nhà khoa học đa lĩnh vực Galileo Galilei (1564 - 1642) cũng với quan điểm khuyến khích sự tự khám phá của người học. Ông cho rằng “Người ta không thể dạy một người nào đó mà chỉ có thể giúp đỡ để người đó tự khám phá”. Nhà triết học, giáo dục học Johann Amos Comenius (1592- 1670) nhận định “phải tìm ra và nhận biết phương pháp dạy học nào mà giáo viên ít phải dạy hơn, tuy nhiên học sinh lại học nhiều hơn” Gibbon (1737-1794), nhà Sử gia Anh quốc nhận định rằng “Mỗi người phải nhận 6 hai thứ giáo dục, một thứ do người khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn, do chính mình tạo lấy” N. Rubakin (1862 - 1946) là nhà bác học, nhà văn, nhà truyền bá khoa học và nhà văn hóa quần chúng có tài của Nga.
Ông rất khuyến khích và hướng dẫn tự học cho mọi người. Rubakin đề cao tính kiên trì và lòng tin trong tự học, mỗi người có một khả năng riêng biệt, muốn việc tự học có hiệu quả cần kết hợp khả năng của bản thân với kỹ thuật tự học thích hợp. Ông kết luận rằng: hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời- đó chính là hương pháp tự học. Makarenko (1888 – 1939), nhà giáo dục của Xô Viết cũng đã cho rằng người học phải là nhà tổ chức tích cực, phải kiên trì, phải làm chủ bản thân và gây ảnh hưởng tới người khác.
Mauries Torfs (1950), một trong những nhà nghiên cứu về khoa điện năng ở Châu Âu với một tác phẩm ngắn Lire pour s’enrichir, đọc sách để làm giàu, ông đã khuyên các nhà doanh nghiệp hãy đọc sách, nghĩa là tự học. Nhiều trang mạng trong và ngoài nước liên quan đến lĩnh vực giáo dục đánh giá rất cao về hoạt động tự học của cá nhân. Các tác giả cho biết tự học đem lại rất nhiều lợi ích. Tự học rèn luyện cho học sinh trở nên độc lập trong tư duy, tự do học tập và không bị hạn chế.
Đặc biệt, tự học đem lại sự tự tin cho học sinh khi giải quyết vấn đề. Kiến thức có được là do sự trải nghiệm, tự nghiên cứu mà có được, không phải do truyền thụ một chiều. Vì thế, học sinh hoàn toàn có thể sai sót, thiếu sót trong quá trình tự học. Việc tự học còn giúp mỗi cá nhân thể hiện và phát huy mặt mạnh nhưng còn tiềm ẩn.
Với tốc độ phát triển của nền khoa học tri thức như hiện nay, học sinh có rất nhiều kênh thông tin để thu thập, nghiên cứu phù hợp với bản thân. Quá trình tự học giúp học sinh có khả năng nghiên cứu chuyên sâu vào một lĩnh vực nào đó mà không cần sự giúp đỡ của giáo viên. Từ những lợi ích đó, học sinh tiếp tục có sự tự tin hơn cho hoạt động học tập ở cấp cao hơn như bậc đại học, với một động lực và kế hoạch từ trước. Xu hướng giáo dục trên thế giới từ cổ đại cho đến nay đều hướng đến lấy người học 7 làm trung tâm, người học phải tự tìm tòi để chiếm lĩnh tri thức.
Tự học là một hoạt động mang tính thiết thực và thời đại, chỉ có tự học thì kiến thức mới là của bản thân, chỉ có tự học mới theo kịp tốc độ phát triển như vũ bão của tri thức. Ngoài ra, việc tự học một mình còn giúp học sinh khám phá ra những cách suy nghĩ khác nhau, khó khăn này giúp cho học sinh độc lập hơn. Toru Kumon cho rằng khả năng tự học không hề phân biệt tuổi tác, ông đã phát triển một chương trình nhằm mục đích dạy cho học sinh cách học, khuyến khích tư duy khám phá những cách suy nghĩ khác nhau để giải quyết vấn đề. Trên cơ sở đó, người học đã tự lĩnh hội kiến thức thông qua quá trình tự tư duy khám phá phù hợp với khả năng của họ.
Tự học còn giúp cho người học trở nên tự tin giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc trong tương lai ở nhiều lĩnh vực khác. Các yếu tố liên quan đến hoạt động tự học Động cơ học tập Yamashiro & McLaughlin (2001), các tác giả đã nghiên cứu việc học ngoại ngữ với sinh viên tại Nhật Bản, các tác giả cho biết động cơ học tập ảnh hưởng rất lớn đến việc học ngoại ngữ, và học ngoại ngữ ở cấp độ khó hơn. Đồng thời, động cơ học tập cũng giúp các sinh viên điều chỉnh quá trình học tập để đạt hiệu quả tốt hơn. Động cơ còn giúp cho sinh viên bắt đầu và duy trì quá trình học lâu dài (Dornyei, 2005) Động cơ học tập và giáo dục đúng đắn được N.Smitman và nhiều nhà giáo dục học coi là yếu tố quan trọng nhất có tính quyết định đến hiệu quả tự học, vì nó thúc đẩy người học tích cực chủ động trong tự học.
Tác giả Spitek (1993) trong ấn phẩm Motivation to learn đã nhận định về hai khuynh hướng để giải thích về sự thực hiện động lực thúc đẩy học tập. Trong đó, tác giả có đề cập đến sự thực hiện động lực thúc đẩy học tập được nảy sinh từ những thành công hay thất bại trong quá trình học tập. Mọi hoạt động của con người đều là hoạt động có mục đích. Nó được thúc đẩy bởi động cơ cụ thể.
Động cơ là lực đẩy trực tiếp của hành động, duy trì hứng thú. 8 Trong hoạt động học tập động cơ là yếu tố tạo ra trạng thái tích cực trong học tập, được hình thành trong quá trình học tập và giải quyết các nhiệm vụ học tập.marcova trong Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu (2003) cho biết có hai loại động cơ: thứ nhất là động cơ học tập mang tính nhận thức,thúc đẩy khát vọng lĩnh hội tri thức ở người học, và thứ hai là động cơ học tập mang tính xã hội, thể hiện khát vọng chiếm lĩnh tri thức của người học để thành người có ích cho xã hội. Chiến lược học tập Katherine Ely (2010). Trong nghiên cứu của tác giả về hiệu quả tự học, có đề cập đến nhiều yếu tố ảnh hưởng dế hiệu quả tự học như cảm xúc, hành vi tự điều chình, trong đó có động cơ học tập là yếu tố trung gian giúp cho việc học trở nên có hiệu quả hơn.
Trong quá trình nghiên cứu, ông cũng đề cập đến việc sử dụng chiến lược học tập của sinh viên trong trường hợp gặp khó khăn trong quá trình tự học. Khi đó, có những sinh viên ngừng cố gắng tiếp tục và có những sinh viên tiếp tục cố gắng thực hiện chiến lược học tập. Winne & Nesbit (2010), quá trình nghiên cứu các tác giả cho thấy có sự tương quan giữa cảm xúc, động lực đến hiệu quả tự học và ngăn chặn sự bỏ học của các sinh viên. Quá trình nghiên cứu hoạt động tự học của Schmidt (2001), Winne (1995), các tác giả nhận định khi học viên được hỗ trợ nhiều về mặt chiến lược cũng làm gia tăng hiệu suất tự học.
Ngược lại khi họ ngưng hỗ trợ về mặt chiến lược thì thành tích tự học của học viên cũng giảm xuống đáng kể. Ruban, McCoach, McGuire, & Reis (2003), nghiên cứu về chiến lược học tập ảnh hương đến kết quả học tập như thế nào, các tác giả cho biết để nghiên cứu chiến lược tác giả nghiên cứu yếu tố liên quan đó là mức độ hiểu bài giàng và mức độ làm được các bài tập, bài kiểm tra về bài giảng đó. Phong cách học tập Trong nghiên cứu của tác giả Rubakin (2003), ông cho rằng việc tự học có ảnh hưởng bởi đặc tính riêng của từng người. Nói cụ thể hơn, khả năng tiếp thu mỗi người 9 khác nhau.
Trí nhớ ở từng người khác nhau. Mỗi người đều có thế mạnh, năng khiếu về một mặt nào đó. Biết được điều này, người học sẽ chủ động việc tự học đem lại hiệu quả hơn. Tác giả cũng đề cập đến phương pháp tự học.
Yếu tố này người học có thể được giúp đỡ, tuy nhiên nếu sự giúp đỡ quá chi tiết thì việc tự học sẽ không còn ý nghĩa. Như vậy, trong tự học, nếu người học biết được phong cách học tập của bản than và chọn lựa được phương pháp thích hợp thì hiệu quả sẽ tăng lên. Artis & Harris (2007), Cron, Marshall, Singh, Spiro, và Sujan (2005); Tobin (2000),quá trình nghiên cứu để giảng dạy cho sinh viên làm thế nào để học tập chủ động, các tác giả đề cập đến nhiều yếu tố về kĩ năng, trong đó có yếu tố về phong cách học tập của từng cá nhân. Những yếu tố này giúp cho học viên sẽ học tập một cách chủ động hiệu quả, cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn.
Môi trường học tập, phương pháp học tập Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ viết về những vấn đề có liên quan đến tự học .Các tác giả đã nêu và phân tích cơ sở khoa học của hoạt động tự học, cơ sở tâm lí học, giáo dục học, xã hội học… Các tác giả đã khẳng định rõ các yếu tố thuộc về cá nhân ( nội lực) có vai trò quyết định đối với kết qủa học tập trong đó có năng lực tự học, ngoài ra các yếu tố bên ngoài như biện pháp hướng dẫn của giáo viên, phương pháp, phương tiện, môi trường học tập cũng có vai trò quan trọng.