Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển năng lực tự học Chương 2. Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh phần dẫn xuất hidrocacbon h a học lớp 11 Chương 3. Thực nghiệm sư phạm 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ L LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC 1.
Năng lực và định hướng phát triển năng lực cho HS THPT 1. Khái niệm về năng lực Khái niệm năng lực c nguồn gốc Latinh: “competentia” c nghĩa là “gặp gỡ”. Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo cách tiếp cận truyền thống (tiếp cận hành vi – behavioural approach) thì năng lực là khả năng đơn lẻ của cá nhân, được hình thành dựa trên sự lắp ghép các mảng kiến thức và kỹ năng cụ thể.
- Theo Nguyễn Quang Uẩn (1998) : “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [35]. - Theo ernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2005): “Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức” [3]. Năng lực là khả năng làm việc tốt, nhờ c phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn Năng lực luôn được xem xét trong mối quan hệ với hoạt động hoặc quan hệ nhất định nào đ. Năng lực (ability) c thể được hiểu theo nghĩa tâm l học, tức là chức năng tâm l , c thể cho phép cá nhân thực hiện hoạt động.
Năng lực còn được hiểu theo nghĩa thực hiện được công việc thực sự (competence). Định hướng đổi mới giáo dục và đào tạo sau năm 2015 [5],[6],[7],[8],[9] - Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học - Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan - Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập - Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng Mô hình bốn thành phần năng lực hành động cần hình thành cho HS THPT (theo tài liệu tập huấn năm 2014 của bộ GD-ĐT về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá) phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo UNESCO: 6 z các thành phần năng lực Các trụ cột giáo dục của UNESO Năng lực chuyên môn Học để biết Năng lực phương pháp Học để làm Năng lực xã hội Học để cùng chung sống Năng lực cá thể Học để tự khẳng định Hình 1. Sơ đồ so sánh các thành phần của năng lực cần hình thành cho HS THPT với các trụ cột giáo dục của UNESCO 1. Định hướng chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực của chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông a.
Về phẩm chất - Yêu gia đình, quê hương, đất nước - Nhân ái, khoan dung - Trung thực, tự trọng, ch công vô tư - Tự lập, tự tin, tự chủ và c tinh thần vượt kh - Thực hiện nghĩa vụ đạo đức, tôn trọng, chấp hành kỷ luật, pháp luật b. Về năng lực chung - Năng lực tự học - Năng lực giải quyết vấn đề - Năng lực sáng tạo - Năng lực tự quản lý - Năng lực hợp tác - Năng lực giao tiếp - Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông - Năng lực sử dụng ngôn ngữ - Năng lực t nh toán 1. Quan niệm về tự học trên thế giới Vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử giáo dục ở trên thế giới. N vẫn còn là vấn đề n ng b ng cho các nhà nghiên cứu giáo dục hiện tại và tương lai bởi vì tự học c vai trò rất quan trọng, quyết định mọi sự thành công trong học tập, là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả, chất lượng của mọi quá trình giáo dục, đào tạo.
7 z Rubakin trong “Tự học như thế nào” giúp bạn đọc biết tự học tập, nâng cao kiến thức toàn diện của mình [34]. Gần đây, khá nhiều cuốn sách cũng đề cập đến vấn đề tự học. Cuốn “Phương pháp dạy và học hiệu quả” – Cark Rogers – một nhà giáo dục học, nhà tâm lý học người Mỹ do Cao Đình Quát dịch đã giải đáp cho HS câu h i học cái gì và học như thế nào [33]. Năm 2008, cuốn “Tôi tài gi i, bạn cũng thế !” của Adam Khoo chứng minh được rằng khả năng tr tuệ tiềm ẩn và sự thông minh sáng tạo của con người vượt xa hơn những gì chúng ta nghĩ và thường được nghe tới [20].
Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi con người trong quá trình học h i thường xuyên của cả cuộc đời. Quá trình tự học diễn ra đúng qui luật của hoạt động nhận thức. Kiến thức tự học là kết quả của hứng thú, của tìm tòi, của lựa chọn, của định hướng ứng dụng. Kiến thức tự học bao giờ cũng vững chắc, bền lâu, thiết thực và nhiều sáng tạo.
Tự học xét cho kĩ là một vấn đề then chốt của Giáo dục và Đào tạo, đồng thời cũng là một vấn đề c ý nghĩa văn hoá, khoa học, xã hội và ch nh trị sâu sắc. Đề cao tự học trong bối cảnh hiện nay của đất nước và thế giới là một cách nhìn vừa thực tế, vừa c ý nghĩa chiến lược. Quan niệm về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam Ở nước ta, tự học đã c từ thời phong kiến. Truyền thống tự học là một bộ phận trong truyền thống hiếu học của nhân dân ta.
Vấn đề tự học được phát động, nghiên cứu nghiêm túc và rộng rãi từ năm 1945, mà Chủ tịch Hồ ch Minh vừa là người khởi xướng vừa là tấm gương để mọi người noi theo. Người từng n i “còn sống thì còn học” và “về cách học phải lấy tự học làm cốt”. Sau đ , truyền thống tự học vẫn tiếp tục phát huy nhưng vẫn là khả năng tự học tự phát vì hồi đ chưa c chủ trương, ch nh sách chăm lo việc tự học, thầy giáo cũng không c trách nhiệm khơi dậy và phát triển năng lực tự học của HS. Nhưng thực tiễn chứng minh rằng khả năng tự học tiềm tàng là rất dồi dào và nội lực cố gắng tìm học, tự học là nội lực quyết định đối với sự nghiệp giáo dục.
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Ch Minh, đã tiếp nhận, thể hiện và làm phong phú tư tưởng, sự nghiệp giáo dục của Người trong l luận và thực tiễn. Thủ tướng đã chỉ rõ: “phương pháp giáo dục không phải chỉ là những kinh nghiệm, thủ thuật trong truyền thụ và tiếp thu kiến thức mà còn là con đường để người học có thể tự học, tự nghiên cứu chứ không phải là bắt buộc trí nhớ làm việc một cách máy móc, chỉ biết ghi rồi nói lại”.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước ta. Từ một GV trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên cứu ông đã trở thành 8 z nhà toán học nổi tiếng. Không chỉ nghiên cứu khoa học cơ bản, ông còn c nhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học.
Ông cho rằng “học bao giờ cũng gắn liền với tự học, tự rèn luyện, coi trọng việc tự học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài”[ 29]. Nhiều công trình nghiên cứu về quá trình tự học và hướng dẫn tự học cũng chỉ ra t nh cấp thiết, cơ sở khoa học và t nh khả thi của hình thức tổ chức đào tạo tự học c hướng dẫn. Nhưng bàn đến tự học môn H a học thì mới chỉ c rất t tác giả đề cập đến. Quan điểm và tư tưởng về tự học đối với môn hóa học Theo GS.Trịnh Văn iều [11,12], học không chỉ là quá trình ghi nhận, thu thập thông tin.
Học là hiểu, ghi nhớ, liên hệ và vận dụng. Nhờ liên hệ và vận dụng HS sẽ hiểu bài sâu sắc hơn, nhớ bài lâu hơn. Trong thực tế một người c thể học theo nhiều kiểu khác nhau nhưng dưới hình thức nào thì tự học cũng là cốt lõi của quá trình học. Tự học đ ng một vai trò quan trọng trong quá trình tiếp thu tri thức và hoàn thiện nhân cách của con người.
H a học là một môn học c những đặc trưng riêng nên đòi h i người học phải c tư duy th ch hợp, đ là năng lực quan sát, phân t ch các hiện tượng tự nhiên, năng lực khái quát, tổng hợp thành quy luật và phải c phong cách học tập độc lập sáng tạo. Như vậy, nội dung về xây dựng các biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học phần dẫn xuất hiđrocacbon H a học lớp 11 trường THPT vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Do đ , phát triển năng lực tự học cho HS thông qua việc xây dựng và sử dụng HT T phần dẫn xuất hiđrocacbon h a học lớp 11 là cần thiết. Cơ sở l luận về phát triển năng lực tự học 1.
Khái niệm về tự học Trong quá trình dạy học ở nước ta hiện nay, tự học của người học đang là vấn đề đặc biệt được quan tâm. Để học được suốt đời thì phải c khả năng tự học. Khả năng này cần được rèn luyện ngay trong khi còn ngồi trên ghế nhà trường. C rất nhiều khái niệm khác nhau về tự học : Hồ Chủ Tịch đã n i: “Tự học là một cách hành động”, tức là: Học tập một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch ra kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đ một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình.
Còn theo cố GS. Nguyễn Văn Đạo (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã c một vài suy nghĩ chung về vấn đề tự học: “Tự học là công việc suốt cả cuộc đời mỗi người.