Mở đầu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. 14 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 15 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan về nghiệp vụ cho vay của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về cho vay Theo khoản 2, điều 3 Quyết định 1627/2011/QĐ/NHNN về quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng với khách hàng, ta có định nghĩa: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Cho vay luôn là hoạt động chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổn tài sản của Ngân hàng, là khoản mục đem lại thu nhập cao nhất, đồng thời cũng là hoạt động có rủi ro cao nhất của NHTM. Theo Hồ Thị Mỹ Linh (2019), thành công hay thất bại của ngân hàng tùy thuộc chủ yếu vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất phát từ chính sách cho vay của ngân hàng. Đặc điểm của cho vay khách hàng cá nhân - Đối tượng cho vay: cá nhân và các hộ gia đình. - Thời hạn khoản vay: gồm ngắn hạn, trung hạn hoặc đai hạn tùy thuộc vào mục đích vay vốn và phương thức cho vay.
- Chi phí cho vay: NHTM phải bỏ ra nhiều chi phí để phát triển sản phẩm dịch vụ, thẩm định, xét duyệt hồ sơ vay vốn và quản lý các khoản vay. - Rủi ro khoản vay: số lượng các khoản KHCN vay là rất lớn, điều này giúp ngân hàng phân tán rủi ro dễ dàng hơn. Song vẫn chưa đựng một mức độ rủi ro lớn và được coi là tài sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng. Xuất phát từ tình hình tài chính, tình trạng công việc, sức khỏe của KHCN có thể có sự biến động dẫn đến mất khả năng chi trả hoặc khách hàng cố tình không chịu trả nợ.
Vì vậy, ngân hàng thường yêu cầu KHCN phải có tài sản đảm bảo khi vay và yêu cầu khách hàng phải mua các gói bảo hiểm liên quan để giảm thiểu rủi ro. 16 - Lãi suất cho vay: lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn lãi suất các khoản cho vay khác của NHTM do quy mô các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản cho vay để mua bất động sản) dẫn đến chi phí cho vay cao đồng thời rủi ro của các khoản vay này cũng rất cao. Vai trò cho vay khách hàng cá nhân 2. Đối với khách hàng cá nhân Các cá nhân luôn cần vốn đáp ứng kịp thời các nhu cầu, mục đích về sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng, nguồn vốn đó sẽ được Ngân hàng cung cấp một lượng đáng kể để khách hàng được sử dụng và hưởng những tiện ích của hàng hóa, dịch vụ trước khi học tích lũy đủ tiền.
Vì vậy ngân hàng là một trung gian tài chính quan trọng. Các nguồn vay vốn mà ngân hàng cung cấp cho các cá nhân luôn có kỳ hạn, lãi suất và phương thức cho vay đa dạng, linh động theo tùy nhu cẩu, mục đích vay của từng KHCN, kèm theo là các yêu cầu chặt chẽ, rõ ràng trong hợp đồng tín dụng, tạo điều kiện cho KHCN sử dụng vốn đạt đươc hiệu quả tối đa. Đối với ngân hàng thương mại KHCN rất đa dạng, số lượng lớn cho nên cho vay KHCN giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng, tăng khả năng huy động các loại tiền gửi và các sản phẩm đi kèm khác của ngân hàng. Hoạt động này góp phần không nhỏ vào lợi nhuận của NTM.
Do đó KHCN là một thị trường đầy tiềm năng đối với NHTM và các NTHM cũng tích cực phát triển hoạt động cho vay đối với KHCN. Đối với kinh tế - xã hội Vay vốn góp phần quan trọng giúp KHCN thực hiện các nhu cầu thiết yếu như sắm sửa hàng hóa, dịch vụ, gia tăng sản xuất, kinh doanh, qua đó thúc đẩy tiêu dùng của các 17 cá nhân và hộ gia đình. Như vậy, hoạt động cho vay KHCN của NHTM đã gián tiếp kích cầu cho nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, phát triển xã hội và nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của khách hàng. Các loại hình cho vay khách hàng cá nhân - Cho vay sản xuất kinh doanh: là sản phẩm tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn của cá nhân và hộ gia đình để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong nước.
- Cho vay tiêu dùng: là hình thức vay vốn phục vụ nhu cầu chi tiêu cá nhân. Cả hai hình thức cho vay trên đều có thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn và phương thức cho vay có thể là cho vay thấu chi, cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay trả góp và cho vay gián tiếp. - Cho vay thấu chi: là hình thức cho vay mà ngân hàng cho phép người vay được vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một thời hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.
- Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để cấp hạn mức thấu chi. Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc lẫn lãi. Đồng thời, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng. - Cho vay theo hạn mức: là hình thức cho vay thuận tiện với những khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng dựa trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. - Cho vay trả góp: là hình thức cho vay ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong hạn mức tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc lâu bền. Khách hàng thường xuyên thế chấp bằng hàng hóa mua trả góp nên cho vay trả góp có 18 rủi ro cao.
Do đó, lãi suất cho vay trả góp thường cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng. - Cho vay gián tiếp: đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian. Hình thức cho vay này có 2 loại: thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng; thông qua các tổ chức trung gian như Hội Phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên… 2. Các quy định về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại - Nguyên tắc cho vay: vốn vay phải sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và phải được hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc và lãi vay đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
- Điều kiện cho vay: có năng lực pháp lý; mục đích vay vốn hợp pháp; có năng lực tài chính; có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; thực hiện đảm bảo nợ vay theo đúng quy định. - Đối tượng cho vay: các tổ chức cá nhân có nhu cầu vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư, tiêu dùng… Ngân hàng không được cho vay các nhu cầu vốn để thực hiện: mua sắm các tài sản mà pháp luật cấm; thanh toán các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật cấm; đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch mà pháp luật cấm. Các chỉ tiêu phản ánh phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Theo Tống Thu Lương (2016), sau đây là các nhóm chỉ tiêu phản ánh phát triển về quy mô và chất lượng của hoạt động cho vay KHCN 2. Các chỉ tiêu định tính - Chính sách cho vay: sự phù hợp các quy trình và chính sách cho vay là cơ sở pháp lí đảm bảo cho các khoản vay được an toàn, đảm bảo, chính xác và hiệu quả.
19 - Khả năng quản lý hiệu quả tài sản của lãnh đạo ngân hàng: đây cũng là một nhân tố quan trọng góp phần làm tăng hiệu quả cho vay KHCN. - Sự đa dạng về sản phẩm cho vay KHCN: đây cũng là nhân tố quan trọng không kém. Nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng, để đáp ứng được điều đó, Ngân hàng cần có những sản phẩm khác nhau phù hợp với nhu cầu của khách hàng. - Rủi ro trong hoạt động cho vay KHCN: hoạt động cho vay thường chứa nhiều rủi ro.
Vì thế cần có những cơ chế, chính sách, quy trình để đo lường, đánh giá để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa các rủi ro xuất hiện. - Cán bộ tín dụng: các cán bộ chi nhánh cũng ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động cho vay. Chất lượng thẩm định của cán bộ tốt thì khoản vay sẽ được an toàn. Ngân hàng cũng cần có những chính sách đào tạo, khen thưởng phù hợp đối với công việc của từng nhân viên hoàn thành tốt công việc của mình.
Các chỉ tiêu định lượng - Tỷ lệ dư nợ tín dụng trên vốn huy động KHCN. - Hệ số thu nợ. - Vòng quay vốn tín dụng của KHCN. - Tỷ lệ nợ xấu KHCN.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng Theo Nguyễn Thu Hằng (2014) và Nguyễn Thị Ngọc Thảo (2015), sau đây là những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay KHCN của ngân hàng: 2. Yếu tố chủ quan ngân hàng - Quy mô và uy tín của ngân hàng thương mại Yếu tố này được đánh giá qua các chỉ tiêu như: tổng tài sản, vốn tự có, mạng lưới ngân hàng,…. 20 Các NHTM muốn phát triển hoạt động cho vay KHCN thì phải mở rộng mạng lưới các điểm giao dịch để khách hàng dễ dàng tiếp cận với các sản phẩm, cán bộ của ngân hàng. - Chính sách cho vay của ngân hàng Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô của hoạt động cho vay nói chung và cho vay KHCN nói riêng.
Có 3 nhân tố tác động chính trong chính sách cho vay: lãi suất cạnh tranh, phương thức cho vay và các tài sản đảm bảo tiền vay. Lãi suất của ngân hàng nào thấp hơn đồng nghĩa với việc sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn.