CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA Ý ĐỊNH NGHỈ VIỆC 1. Khái niệm nghỉ việc Nghỉ việc trong tổ chức đã trở thành một vấn đề gây sự chú ý đặc biệt đối với các học giả và các nhà quản lý do các chi phí mà nó gây ra và các khó khăn mà các tổ chức gặp phải trong việc tuyển dụng và duy trì các nhân viên tài năng (Villanueva & Djurkovic, 2009). Theo từ điển Elook, nghỉ việc là khoảng thời gian mà nhân viên không đến nơi làm việc, không tiếp tục làm các công việc và nhiệm vụ mà tổ chức mong muốn họ làm. Theo định nghĩa này thì sẽ có nhiều cách hiểu về tình trạng nghỉ việc.
Nhân viên nghỉ việc khi họ gặp phải các lý do cá nhân như bị bệnh, bị thương hay có sự khẩn cấp về y khoa cá nhân. Họ cũng nghỉ việc trong trường hợp người thân qua đời, bệnh, thương tích hay có sự khẩn cấp về y tế. Việc nhân viên nữ vắng mặt khỏi nơi làm việc trong thời gian mang thai cũng là nghỉ việc. Vào các ngày lễ, nhân viên không phải đi làm việc hay trường hợp nhân viên xin phép nghỉ một thời gian cho ác chuyến đi chơi xa cũng được gọi là nghỉ việc.
Nghỉ hưu cũng là nghỉ việc và bị công ty sa thải cũng là nghỉ việc. Khái niệm nghỉ việc trong nghiên cứu này sẽ được hiểu là nghỉ việc tự nguyện. Về vấn đề này, Curtis (2006) đã định nghĩa nghỉ việc là một quy trình trong đó nhân viên rời khỏi tổ chức và tổ chức bổ nhiệm người khác thay thế nhân viên này. Nghiên cứu của Deery (2008) cho rằng nghỉ việc là một quy trình thay thế một nhân viên này bằng một nhân viên khác bởi nhiều nguyên nhân.
Nghiên cứu này sử dụng khái niệm nghỉ việc của Tommy Thomas (2009) như sau: Nghỉ việc là tình trạng xảy ra khi nhân viên của một tổ chức lựa chọn đưa ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với tổ chức. Từ đó, ông đề ra khái niệm về tỷ lệ nghỉ việc như một phương pháp đo lường tình trạng nghỉ việc trong tổ chức. Tỷ lệ nghỉ việc là số nhân viên nghỉ việc trên số nhân viên trung bình. SVTH: Thái Thị Hương 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Ánh Dương 1.
Các quan điểm về ý định nghỉ việc Ý định nghỉ việc của nhân viên là ý định rời khỏi môi trường hiện tại để chuyển sang môi trường làm việc khác. Dự định ở đây có nghĩa là trước khi thực sự rời khỏi môi trường làm việc hiện tại, những người này đã thực hiện một quyết định có ý thức (Janet Cheng Lian Chew, 2004). Ý định nghỉ việc của nhân viên đã được nghiên cứu rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Do nó có ảnh hưởng đến năng suất lao động và sự thành công của tổ chức.
Ý định nghỉ việc của nhân viên đang là một vấn đề lớn đối với các tổ chức sản xuất. Ý định nghỉ việc thường không được đo lường đầy đủ, thường xuyên cho đến khi xảy ra nghỉ việc thực tế. Nhà quản lý cần phải nắm được ý định nghỉ việc của nhân viên để có giải pháp hạn chế nó, bởi điều này sẽ ảnh hưởng đến tinh thần và kết quả hoạt động của công ty. Không giống như nghỉ việc, ý định nghỉ việc mang tính không rõ ràng (Berndt, 1981).
Nó phản ảnh tính chủ quan của một cá nhân sẽ thay đổi công việc trong một thời gian nhất định, và nó được xem là tiền thân của quyết định nghỉ việc (Sousa-Poza và Henneberger, 2002). Nguyên nhân nghỉ việc của nhân viên Là một nhà quản lý, có bao giờ tự hỏi, tại sao cứ thời gian cuối năm, mình lại nhận được nhiều lá đơn xin nghỉ việc của nhân viên? Và đầu năm mới, mình lại đau đầu đi tìm nhân viên mới? Một điều dễ nhận thấy là khi một nhân viên xin nghỉ việc, họ không bao giờ nói ra lý do thật sự của mình. Các công ty thường có quy trình và các thủ tục cần phải làm khi có nhân viên xin nghỉ, như phỏng vấn/nói chuyện để tìm hiểu lý do; bàn giao thiết bị làm việc, tài sản, thẻ ra vào; bàn giao công việc còn dang dở… Sẽ có hàng tá lý do được nhân viên đưa ra, chẳng hạn như: cảm thấy công việc không thích hợp, năng lực của mình không phù hợp với yêu cầu của công việc, không hòa đồng được với văn hóa/môi trường của công ty. Ngoài ra còn có những lý do hết SVTH: Thái Thị Hương 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Ánh Dương sức cá nhân như lập gia đình, muốn đi học thêm, muốn nghỉ việc ở nhà để có thời gian chăm lo cho con cái, nhà cửa… Tất cả đều là những lý do mang tính ôn hòa, không làm mất lòng người ở lại nhưng với tư cách là nhà quản lý, họ cần phải biết lý do thật sự để giữ chân nhân viên ở lại công ty mình.
Những lý do trên đây có thể đúng, có thể sai đối với từng người nhưng dường như nó đã trở thành một vài lý do mẫu và “sẵn có để dùng” cho những nhân viên muốn tìm cho mình một vị trí khác. Trong khi đó, lý do chuuyển đi thật sự và có thể là khó nói như lương không đủ sống, chính sách của công ty không phù hợp, hay đơn giản là bất hòa/bất bình với một đồng nghiệp nào đó trong công ty. Cũng có thể chính vì cách cư xử của nhà quản trị: thiên vị người này hơn người khác, quá coi trọng một người nào đó và có những hành động “mờ ám” như rất hay họp riêng lẻ với một thành viên trong một công ty/một nhóm mà những người khác trong cùng bộ phận không thể hiểu đang có chuyện gì xảy ra hay có dự án nào mới hay công việc là gì… Vậy các lý do thật sự khó nói khiến nhân viên quyết định nộp đơn xin nghỉ việc là gì? - Lương thưởng không thỏa mãn. Thường đây là lý do chính và chiếm tỷ lệ khá cao khi nhà quản trị nhận được đơn xin thôi việc từ nhân viên.
Khi nhân viên xin nghỉ, công ty thường giữ chân nhân viên của mình bằng cách tăng lương, nhưng cách tốt hơn là hãy có chính sách tăng lương định kỳ và có các bậc khác nhau với những mức độ đóng góp khác nhau. Bởi vì có khá nhiều người quan niệm “đã xin nghỉ rồi thì sẽ không bao giờ ở lại”. - Chế độ bảo hiểm, chính sách của công ty không thỏa đáng. - Bất hòa với đồng nghiệp.
Có thể là lý do cá nhân, nhưng cũng có thể do bị một nhân viên giỏi hơn suốt ngày gây áp lực, chèn ép, không tôn trọng và gây ức chế quá đáng cho người khác. - Sếp thiên vị - Sếp bất tài. - Sếp luôn “cướp” thành tích của nhân viên để tranh công với cấp trên. SVTH: Thái Thị Hương 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Ánh Dương - Cách quản lý của sếp quá chán và không chuyên nghiệp: không hiểu được nhân viên của mình làm gì, không nắm được nội dung công việc trong nhóm… Những người sếp như thế này khiến nhân viên chán nản và biết rằng có cống hiến nhiều hơn nữa cũng không được biết đến.
- Bị chính sếp “trù dập”. - Quy mô công ty nhỏ và làm ăn không hiệu quả. Một quản lý giỏi phải biết cách giữ chân nhân viên của mình. Nhà quản trị không thể suốt ngày đi tuyển nhân viên mới mà không hiểu tại sao nhân viên của mình lại lần lượt xin nghỉ.
Có người sẽ nói thẳng lý do tại sao mình ra đi, nhưng xu hướng của nhân viên - đặc biệt là nhân viên nữ - thường là “dĩ hòa vi quý” và họ sẽ nói ra một lý do hoa mỹ để che đậy lý do thật sự. Các sếp, nhà quản lý cũng có nhiều cấp và người quản lý trực tiếp luôn ảnh hưởng nhiều nhất tới nhân viên, vì vậy nếu nhà quản trị ở cấp cao hơn thì cần có cái nhìn tổng quan để tránh để mất những nhân viên có kinh nghiệm và làm việc hiệu quả ở phần “nền”. Tổn thất cho công ty khi nhân viên nghỉ việc Vấn đề nhân viên nghỉ việc xảy ra một cách bình thường ở mọi doanh nghiệp trên thế giới nhưng nó lại là một vấn đề khá tốn kém. Có rất nhiều nguyên nhân khiến cho việc nghỉ việc của nhân trở nên tốn kém.
Dưới đây chính là những tổn thất đầu tiên mà doanh nghiệp phải chịu khi một nhân viên nghỉ việc và vị trí của họ không có người đảm nhận. Chi phí để thực hiện tiếp nhiệm vụ của vị trí vừa mới bị bỏ trống: Chỉ bởi vì một nhân viên rời bỏ vị trí không có nghĩa là công việc của vị trí đó không cần được thực thi. Dù một nhân viên tạm thời sẽ đảm nhận công việc hay một người khác trong công ty làm luôn cả công việc đó, nhiệm vụ cần phải được hoàn thành. Những chi phí này có thể được tính như lương ngoài giờ.
Chi phí của cuộc phỏng vấn người nhân viên sắp nghỉ việc: Nó bao gồm thời gian của người nhân viên thực hiện cuộc phỏng vấn, thời gian của người rời bỏ công ty, chi phí hành chính của việc rút giảm bảng lương, trừ các khoản phúc lợi và những chi phí thủ tục khác cần cho quy trình từ chức của nhân viên. SVTH: Thái Thị Hương 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Ánh Dương Chi phí quản lý: Khi có một vị trí bỏ trống, người quản lý cần phải bỏ thời gian để tìm hiểu các công việc nào còn đang dang dở và phân bổ công việc như thế nào cho đến khi có một người thay thế. Chi phí đào tạo mà công ty đã bỏ ra cho người nhân viên vừa nghỉ việc: Khoản này bao gồm các chi phí huấn luyện nội bộ, huấn luyện bên ngoài, học tập nâng cao và các bằng cấp, chứng chỉ mà công ty đã giúp nhân viên có được. - Ảnh hưởng năng suất nội bộ: Một chiếc ghế trống trong phòng họp có nghĩa là sẽ có nhiều việc hơn cho các thành viên khác trong nhóm.
Thời hạn công việc sẽ bị kéo dài ra và những người còn lại phải dành nhiều thời gian hơn vào việc thảo luận và sắp xếp các ưu tiên trong công việc. - Phí bồi thường nghỉ việc và trợ cấp nghỉ việc: Tùy thuộc vào từng doanh nghiệp và thỏa thuận khi tuyển dụng, các công ty có thể phải trả cho những nhân viên nghỉ việc một khoản đền bù trong trường hợp nhân viên nghỉ việc.