Mở đầu Chương 2: Tổng quan tài liệu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận. số 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan Ý định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là sự chuẩn bị của một cá nhân để bắt đầu kinh doanh (Souitaris, Zerbinati, & Al-Laham, 2007); Lập kế hoạch và xây dựng doanh nghiệp là cả một quá trình (Gupta & Bhawe, 2007). Để tạo dựng công việc kinh doanh của riêng mình, các cá nhân phải bắt nguồn từ việc nhận biết các cơ hội, tận dụng các nguồn lực sẵn có (Kuckertz & Wagner, 2010).
Theo Schwarz, Wdowiak, Almer-Jarz, và Breitenecker (2009), ý định kinh doanh của sinh viên bắt nguồn từ ý tưởng của sinh viên và được định hướng đúng đắn bởi các chương trình giáo dục và giảng viên. Trong nghiên cứu này, ý định khởi nghiệp của sinh viên là tiền đề, là sự sẵn sàng thực hiện hành vi kinh doanh có chủ đích của sinh viên với mong muốn tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị đáp ứng nhu cầu của xã hội. Theo lý thuyết hành động hợp lý (TRA), hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi và khả năng kiểm soát của họ (Ajzen & Fishbein, 1975). Thuyết (TRA) được sử dụng để dự đoán hành vi tự nguyện và giúp đỡ người khác trong việc nhận ra các yếu tố tâm lý của họ.
Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định là thái độ cá nhân và chuẩn mực chủ quan. Trong đó, thái độ của cá nhân đối với hành vi thể hiện mức độ đánh giá tích cực hay tiêu cực của cá nhân đó đối với hành vi đó. Thái độ bị ảnh hưởng bởi giá trị kỳ vọng của cá nhân. Trên cơ sở lý thuyết hành động hợp lý của Ajzen và Fishbein (1975), Ajzen (1991) đã phát triển Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) để dự đoán và làm sáng tỏ hành vi của con người trong một bối cảnh cụ thể.
Nhân tố thứ ba ảnh hưởng đến ý định của con người là nhân tố nhận thức điều khiển hành vi. Yếu tố này đã chỉ ra mức độ dễ dàng hay khó khăn của việc thực hiện hành vi, nhận thức của cá nhân là do khả năng và nguồn lực của anh ta để thực hiện hành vi (Ajzen, 1991). Trong đó, ý định khởi nghiệp là yếu tố có trước, quyết định việc thực hiện hành vi kinh doanh. Nó sẽ cho phép dự đoán cả những hành vi không hoàn toàn kiểm soát được với giả định rằng một hành vi có thể được dự đoán hoặc giải thích bằng ý định thực hiện hành vi đó (Kolvereid, 1996).
Nghiên cứu của Ngô và Cao (2016), 9 phân loại theo 03 cách tiếp cận: Chương trình giáo dục và ý định khởi nghiệp của sinh viên; môi trường và ý định khởi nghiệp; Kế hoạch khởi nghiệp kinh doanh cá. Sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM với ý định khởi nghiệp đã chỉ ra có 07 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi khởi nghiệp của sinh viên bao gồm đặc điểm tính cách; thái độ cá nhân; nhận thức và thái độ; giáo dục khởi nghiệp; nhận thức kiểm soát hành vi; chuẩn mực chủ quan và thái độ, quy định (TA Phan & Tran, 2017). Theo LK Le (2018), ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế chịu tác động của 05 yếu tố: yếu tố bên trong của sinh viên (nghị lực, sự tự tin, đam mê) và yếu tố bên ngoài (nguồn vốn, chính sách hỗ trợ của nhà trường).Mặt khác, theo TND Le và Nguyen (2019), ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành Quản trị kinh doanh du lịch chịu tác động của 04 yếu tố: môi trường giáo dục; mục tiêu và hoài bão kinh doanh của sinh viên; nhận thức kiểm soát hành vi và sức hấp dẫn của khởi nghiệp; Trong đó nhận thức kiểm soát hành vi là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các tiêu chuẩn chủ quan, nhu cầu và nguồn vốn không ảnh hưởng đến ý tưởng khởi nghiệp của sinh viên.
Theo Chau và Huynh (2020), ý định khởi nghiệp của sinh viên bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi môi trường khởi nghiệp, tiếp theo là giáo dục khởi nghiệp tại trường đại học; nhận thức kiểm soát hành vi; tiêu chuẩn chủ quan; Xu hướng chấp nhận rủi ro, và sự tự tin. Ngoài ra, ý định khởi nghiệp của sinh viên được xác định bởi kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) của VQ Phan và Trac (2020) như thái độ cá nhân, chuẩn chủ quan và kiểm soát nhận thức hành vi. Hơn nữa, ý định khởi nghiệp của sinh viên còn được khẳng định bởi sự tự tin về tính khả thi là yếu tố quan trọng để đi đến ý định khởi nghiệp. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa giảng dạy, hoạt động ngoại khóa, ý kiến của những người xung quanh cũng như sở thích kinh doanh của mỗi cá nhân có tác động tích cực đến niềm tin về tính khả thi mà trung gian là yếu tố hình thành ý định khởi nghiệp (HT Nguyen & Nguyen, 2016).
Tuy nhiên, nghiên cứu chưa phân tích các yếu tố bên trong (đặc điểm tính cách, thái độ cá nhân, nhận thức về kiểm soát hành vi, vốn) đối với khởi nghiệp. ý định khởi nghiệp của sinh viên còn được khẳng định bởi sự tự tin về tính khả thi là yếu tố quan trọng để đi đến ý định khởi nghiệp. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa giảng dạy, hoạt động ngoại khóa, ý kiến của những người xung quanh cũng như sở thích kinh doanh của mỗi cá nhân có tác động tích cực đến niềm tin về tính khả thi mà trung gian là yếu tố hình thành ý định khởi nghiệp (HT Nguyen & Nguyen, 2016). Tuy nhiên, nghiên cứu chưa phân tích các yếu tố bên trong (đặc điểm tính cách, thái độ cá nhân, nhận thức về kiểm soát hành vi, vốn) đối với khởi nghiệp.
ý định khởi nghiệp của sinh viên còn được khẳng định bởi sự tự tin về tính khả thi là yếu tố quan trọng để đi đến ý định khởi nghiệp. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa giảng dạy, hoạt động ngoại khóa, ý kiến của những người xung quanh cũng như sở thích kinh doanh của mỗi cá nhân có tác động tích cực đến niềm tin về tính khả thi mà trung gian là yếu tố hình thành ý định khởi nghiệp (HT Nguyen & Nguyen, 2016). Tuy nhiên, nghiên cứu chưa phân tích các yếu tố bên trong (đặc điểm tính cách, thái độ cá nhân, nhận thức về kiểm soát hành vi, vốn) đối với khởi nghiệp. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa giảng dạy, hoạt động ngoại khóa, ý kiến của những người xung quanh cũng như sở thích kinh doanh của mỗi cá nhân có tác động tích cực đến niềm tin về tính khả thi mà trung gian là yếu tố hình thành ý định khởi nghiệp (HT Nguyen & Nguyen, 2016).
Tuy nhiên, nghiên cứu chưa phân tích các yếu tố bên trong (đặc điểm tính cách, thái độ cá nhân, nhận thức về kiểm soát hành vi, vốn) đối với khởi nghiệp. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa giảng dạy, hoạt động ngoại khóa, ý kiến của những người xung quanh cũng như sở thích kinh doanh của mỗi cá nhân có tác động tích cực đến niềm tin về tính khả thi mà trung gian là yếu tố hình thành ý định khởi nghiệp (HT Nguyen & Nguyen, 2016). Tuy nhiên, nghiên cứu chưa phân tích các yếu tố bên trong (đặc điểm tính cách, thái độ cá nhân, nhận thức về kiểm soát hành vi, vốn) đối với khởi nghiệp. Tóm tắt kết quả của các nghiên cứu trước đây 10 Kết quả nghiên cứu của tác giả.
2017 TA Phan & Tran, Trường & Nguyên, Ngô & Cao, 2016 HT Nguyễn & Châu & Huỳnh LK Lê, 2018 Nguyên, 2016 VQ Phan & Yếu tố Trác, 2020 2019 2020 Thái độ đối với x x hành vi Nhận thức hành vi x x điều khiển chuẩn mực chủ quan x x Đặc điểm tính cách x x Thủ đô x x giáo dục x x Môi trường Sự tự tin của khả x x năng. Sinh viên' kinh doanh x x ý định 2. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu 2. Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp Theo Ajzen (1991), thái độ đối với hành vi khởi nghiệp thể hiện sự đánh giá, ủng hộ hoặc phản đối tích cực hoặc tiêu cực đối với hành vi dự định của một cá nhân.
Khi sinh viên có thái độ hứng thú khởi nghiệp, nhận thấy lợi ích và khi có cơ hội, nguồn lực sẽ tiến hành khởi nghiệp. Các yếu tố khác ảnh hưởng đến thái độ đối với hành vi kinh doanh như chấp nhận rủi ro thế chấp, tự do và độc lập (Krueger, Reilly, & Carsrud, 2000). Trong nghiên cứu này, đó là đánh giá tích cực hay tiêu cực, dành cho hay chống lại một người có ý định có quan điểm đối với doanh nghiệp 11 hành vi mà họ đang hướng tới. Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp đã được khẳng định là có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trong các nghiên cứu (DTT Le & Nguyen, 2016; TND Le & Nguyen, 2019; TA Phan & Tran, 2017; VQ Phan & Trac, 2020; Truong & Nguyễn, 2019).
H1: Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên 2. Nhận thức kiểm soát hành vi. Theo Ajzen (1991), nhận thức kiểm soát hành vi đề cập đến nhận thức của một cá nhân về mức độ dễ dàng hay khó khăn của nó; có bị kiểm soát, hạn chế hay không khi thực hiện hành vi. Nó có thể được đánh giá qua nhận thức của cá nhân về khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp khi khởi nghiệp, khả năng thành công trong kinh doanh, kiến thức, kinh nghiệm cá nhân hoặc khả năng tiếp cận thông tin để khởi nghiệp.
Một cá nhân có tiềm năng khởi nghiệp phải có mong muốn và nhận thức được tính khả thi của việc khởi nghiệp (Shapero & Sokol, 1982). Đây là khái niệm gần với khái niệm năng lực cá nhân (Bandura, 1997); Nhận thức về kiểm soát hành vi được khẳng định có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trong các nghiên cứu về (Châu & Huỳnh, 2020; DTT Le & Nguyễn, 2016; TND Lê & Nguyễn, 2019; TA Phan & Tran, 2017).