chương 1, để xác định được vấn đề nghiên cứu, đề tài thực hiện phương pháp quan sát, thu thập dữ liệu thứ cấp để nhằm hiểu rõ lý do quyết định thực hiện đề tài này, để từ đó định hướng cho việc nghiên cứu đi đúng hướng, các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể, các câu hỏi nghiên cứu được tác giả đưa ra. Đề tài xác định phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian, xác định đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát. Giới thiệu về hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Trình bày ý nghĩa của đề tài về mặt học thuật và thực tiễn.
Cuối cùng giới thiệu về bố cục của đề tài nghiên cứu. Chương tiếp theo sẽ trình bày cơ sở lý thuyết bao gồm các khái niệm, mô hình lý thuyết nền và các nghiên cứu trong nước, ngoài nước có liên quan đến đề tài. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm nhà thông minh (Smarthome) Các khái niệm về nhà thông minh (tiếng Anh: home automation, domotics, smart home hoặc Intellihome) đã được định nghĩa là công nghệ thông minh trong nhà để hỗ trợ sinh hoạt hàng ngày hoặc có mục tiêu chính là cung cấp một môi trường gia đình thoải mái (Sintonen và cộng sự, 2013). Ding và cộng sự (2011) khẳng định rằng khái niệm nhà thông minh ban đầu được phát triển với mục tiêu cung cấp sự tiện lợi, cải thiện an ninh và tiết kiệm năng lượng.
Ngoài ra, Demiris và cộng sự (2008) tuyên bố rằng nhà thông minh sử dụng cảm biến, thiết bị và các tính năng viễn thông để nâng cao sự an toàn của cư dân và theo dõi tình trạng sức khỏe cũng như hạnh phúc tổng thể của họ. Nhà thông minh được phát minh để phục vụ nhu cầu của người dùng, có thể được đánh giá về các kết quả thể chất, nhận thức, chức năng và xã hội mong muốn của sự can thiệp của công nghệ và cách thức công nghệ phù hợp với thói quen hàng ngày của người dùng (Matthews và cộng sự, 2010). Như vậy có thể khái quát nhà thông minh (Smart home) là kiểu nhà được lắp đặt các thiết bị điện, điện tử có thể được điều khiển hoặc tự động hoá hoặc bán tự động. Thay thế con người trong thực hiện một hoặc một số thao tác quản lý, điều khiển.
Hệ thống điện tử này giao tiếp với những người dùng thông qua bảng điện tử được đặt trong nhà, ứng dụng di động, máy tính bảng hoặc giao diện web. Trong ngôi nhà thông minh, các thiết bị từ phòng ngủ, phòng khách đến phòng tắm đều được trang bị bộ điều khiển điện tử có thể kết nối được với internet và điện thoại di động, cho phép chủ nhân có thể điều khiển vật dụng từ xa hoặc lập trình sao cho thiết bị ở nhà hoạt động theo lịch (Stojkoska và Trivodaliev, 2017). Ngoài ra, các thiết bị có thể hiểu những ngôn ngữ của nhau và khả năng tương tác với nhau. Đồng thời, thiết bị nhà thông minh là thiết bị điện tử được sử dụng trong ngôi nhà thông minh, được cài đặt, được kết nối theo ý muốn của chủ nhân ngôi nhà thông minh và hoạt động một cách tự động.2 Khái niệm ý định tiêu dùng Ý định tiêu dùng: Ý định tiêu dùng phản ánh niềm tin của người tiêu dùng liên quan đến chuỗi hành vi tiêu dùng (Ajzen và Fishbein, 1980).
Theo Ajzen (1985), nó được mô tả như là động cơ cá nhân được nhận thức của người tiêu dùng trong các kế hoạch ra quyết định 7 nhằm nỗ lực thực hiện một hành vi cụ thể. Đa số những hành vi của con người là tự nguyện và chịu sự kiểm soát của ý định (Han và cộng sự, 2010). Ý định tiêu dùng ảnh hưởng bởi những mức độ mà cá nhân có thái độ tích cực đối với hành vi, nhận thức kiểm soát hành vi và chuẩn chủ quan (Ajzen và Fishbein, 1980). Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, ý định của người tiêu dùng là kế hoạch ra quyết định mua sản phẩm hoặc thương hiệu được tạo ra thông qua quá trình lựa chọn hoặc ra quyết định.
Theo tác giả Whitlark và cộng sự (1993) ý định tiêu dùng được định nghĩa là tỷ lệ giữa khả năng tiêu dùng kết hợp với các yếu tố khác đối với hành vi mua thực tế của cá nhân. Ý định tiêu dùng cho biết người tiêu dùng sẽ mua theo nghiên cứu của Blackwell và cộng sự (2001), cho rằng ý định tiêu dùng bị tác động bởi 3 yếu tố: thái độ, nhóm ảnh hưởng, nhận thức. Các yếu tố này liên quan và tác động mạnh mẽ đến ý định mua hàng thông qua những hành vi và tình huống.2 Các lý thuyết liên quan về hành vi khách hàng 2.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA) Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) được Fishbien và Ajzen đề xuất lần đầu tiên vào năm 1980. Theo TRA, các cá nhân sẽ thu thập, đánh giá hệ thống thông tin hiện có và từ đó quyết định có hay không việc thực hiện hành vi.
TRA cũng khẳng định, ý định hành vi quyết định trực tiếp đến hành vi và ý định hành vi chịu ảnh hưởng của thái độ và chuẩn chủ quan. Thái độ được cho là cảm giác tích cực hay tiêu cực của một cá nhân khi thực hiện hành vi; nó là biến cố xã hội của niềm tin ở kết quả chắc chắn của hành vi và đánh giá của cá nhân về những kết quả này. Chuẩn chủ quan được định nghĩa là nhận thức của một cá nhân về việc những người quan trọng đối với họ nghĩ rằng họ nên hay không nên thực hiện hành vi; nói cách khác, chuẩn chủ quan là sự ảnh hưởng từ người xung quanh, môi trường xã hội đến ý định hành vi của một cá nhân. Niềm tin và sự Thái độ đối với đánh giá hành vi Ý định Hành vi Niềm tin mang Chuẩn mực chủ tính chuẩn mực quan về hành vi Hình 2.
1 Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) Nguồn: Fishbien và Ajzen (1980) 8 2.2 Thuyết hành vi dự định (TPB) Mô hình thuyết hành vi dự định (Theory of planned Behavior – TPB) khắc phục nhược điểm của TRA bằng các cách thêm vào một biến nữa là những hành vi kiểm soát cảm nhận. Nó đại diện cho các nguồn lực cần thiết của một người để thực hiện một công việc bất kỳ. TPB cho rằng hành vi của cá nhân được quyết định bởi ý định hành vi, ý định hành vi cũng chịu tác động bởi nhân tố thái độ và chuẩn chủ quan. Tuy vậy, theo TPB, ý định hành vi còn chịu tác động bởi nhân tố “nhận thức kiểm soát hành vi”.
Nhận thức kiểm soát hành vi được hiểu như là nhận thức của cá nhân về sự khó khăn hay dễ dàng khi thực hiện hành vi của bản thân mình; nhận thức kiểm soát hành vi lại phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi. Mô hình TPB được xem như tối ưu hơn đối với mô hình TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu. Thái độ Chuẩn chủ quan Xu hướng Hành vi hành vi thực sự Kiểm soát hành vi cảm nhận Hình 2. 2 Mô hình thuyết hành vi dự định (TPB) 2.3 Thuyết chấp nhận công nghệ (TAM) Mô hình thuyết chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM) có nguồn gốc từ mô hình TRA, được phát triển bởi Davis vào năm 1986.
Là sự kết hợp ngẫu nhiên giữa niềm tin (sự hữu ích cảm nhận, sự dễ sử dụng cảm nhận) với thái độ của người sử dụng, ý định sử dụng và việc chấp nhận công nghệ. Sự hữu ích cảm nhận là mức độ mà một cá nhân tin rằng sử dụng hệ thống đặc thù sẽ gia tăng sự hoàn thành công việc. Sự dễ sử dụng cảm nhận là mức độ mà một cá nhân tin rằng sử dụng hệ thống sẽ đỡ tốn thời gian. Hai yếu tố của niềm tin này chịu tác động của những biến bên ngoài hình thành từ quá trình ảnh hưởng xã hội và quá trình nhận thức, trải nghiệm khi sử dụng công nghệ.
9 Sự hữu ích cảm nhận Biến bên Thái độ Ý định Thói quen ngoài sử dụng sử dụng Sụ dễ sử dụng Hình 2. 3 Mô hình chấp nhận công nghệ TAM Nguồn: Davis (1986) 2.4 Lý thuyết về chấp nhận và sử dụng công nghệ UTAUT Mô hình thống nhất về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT - Unified Theory of Acceptance and Use of Technology) Venkatesh và cộng sự (2003) đã phát triển mô hình Chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (UTAUT). Đây được xem là mô hình kết hợp của 8 mô hình trước đó dựa trên quan điểm chung nhất là nghiên cứu sự chấp nhận của người sử dụng về một hệ thống thông tin mới bao gồm: - TRA (Theory of Reasoned Action – Thuyết hành động hợp lý) - TAM (Technology Acceptance Model – Mô hình chấp nhận công nghệ) - MM ( Motivation Model – Mô hình động cơ) - TPB (Theory of planned Behavior – Thuyết hành vi dự định) - C-TAM-TPB ( A model combining TAM and TPB – Mô hình kết hợp TAM và TPB) - MPCU ( Model of PC Utilization – Mô hình sử dụng máy tính cá nhân) - IDT (Innovation Diffusion Theory – mô hình phổ biến sự đổi mới) - SCT (Social Cognitive Theory – Lý thuyết nhận thức xã hội) Lý thuyết này đưa ra mô hình như sau: 10 Hình 2. 4 Mô hình thống nhất chấp nhận sự dụng công nghệ - UTAUT Nguồn: Venkatesh và cộng sự (2003) Trong đó, Hiệu quả mong đợi được định nghĩa là “mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng các hệ thống mới sẽ giúp cho người đó đạt được năng suất trong công việc” (Venkatesh và cộng sự, 2003).
Nỗ lực kỳ vọng được định nghĩa là “mức độ dễ dàng liên quan đến việc sử dụng hệ thống” (Venkatesh và cộng sự, 2003). Ảnh hưởng xã hội được xem là mức độ mà một từ đó cá nhân cảm thấy tầm quan trọng của việc bị ảnh hưởng từ ý tưởng của những người xung quanh rằng họ nên sử dụng hệ thống mới” (Venkatesh và cộng sự, 2003). Điều kiện thuận lợi được định nghĩa là “mức độ mà một cá nhân có niềm tin rằng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của tổ chức đủ điều kiện để hỗ trợ cho hệ thống” (Venkatesh và cộng sự, 2003). UTAUT là một mô hình kết hợp một số mô hình trước đó về sự chấp nhận của những người dùng đối với các hệ thống mới, bao gồm mô hình TAM.