Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG TIẾP 11 CẬN VỐN TÍN DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM. Chương 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN TÍN DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM Chương 4: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Chương 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI MỞ CHÍNH SÁCH 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN TÍN DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM 2.1 Những lý thuyết chung về tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Khái niệm Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa thường được gọi chung là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về các yếu tố như tổng vốn, số lượng lao động và doanh thu.
DNNVV cũng có thể được chia thành ba loại căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp bao gồm (1) doanh nghiệp siêu nhỏ, (2) doanh nghiệp nhỏ và (3) doanh nghiệp vừa. Căn cứ theo quy mô của doanh nghiệp, thì doanh nghiệp được phân thành các nhóm: Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, và doanh nghiệp lớn. Tiêu chí để xác định ranh giới giữa các nhóm doanh nghiệp này ở các quốc gia, các tổ chức, các ngành kinh tế lại khác nhau, và trong mỗi quốc gia thì tùy từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nhất định lại phân loại doanh nghiệp theo các tiêu chí khác nhau (Phụ lục 3). Theo nghiên cứu của tác giả, thì các quốc gia sử dụng phổ biến nhất hiện nay 3 tiêu chí là số lao động, doanh thu và tổng tài sản để phân loại DNNVV.
Ở Việt Nam, DNNVV được xác định là những doanh nghiệp có số lao động ít và quy mô vốn nhỏ hoặc doanh thu ở mức hạn chế (Phụ lục 4). Tóm lại, DNNVV là tổ chức sản xuất kinh doanh có quy mô giới hạn theo những tiêu chí nhất định, gắn với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.2 Đặc điểm Những đặc điểm cơ bản của DNNVV bao gồm: Thứ nhất, DNNVV có quy mô vốn hạn chế, đa phần là vốn tự có và khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng thấp. 13 Để bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, DNNVV chỉ cần một lượng vốn đầu tư ban đầu không lớn, diện tích mặt bằng nhỏ hoặc có thể tận dụng chính nhà cửa của chủ sở hữu,… Điều này tạo cho DNNVV lợi thế hơn so với doanh nghiệp lớn như thành lập và gia nhập thị trường dễ dàng, vốn đầu tư được thu hồi nhanh do lĩnh vực DNNVV tham gia có chu kỳ sản xuất ngắn, không đỏi hỏi đầu tư trang thiết bị công nghệ nhiều,… Thứ hai, DNNVV có lĩnh vực đầu tư sản xuất kinh doanh đa dạng. Những lợi thế của DNNVV như quy mô, tiềm lực tài chính nhỏ, linh hoạt trong kinh doanh, dễ thành lập, dễ ra nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh,… đã tạo điều kiện cho các DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp, trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau.
Nhờ quy mô vốn đầu tư nhỏ, khai thác tốt nguồn lao động và nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương, nắm bắt và đáp ứng nhanh chóng được những thay đổi của thị trường nên DNNVV ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy và phát triển kinh tế của địa phương và đất nước. Thứ ba, DNNVV có số lượng lao động hạn chế, lao động có trình độ và tay nghề cao không nhiều. DNNVV sử dụng số lao động hạn chế, lao động thường có trình độ tay nghề không cao, chủ yếu là lao động phổ thông. Do hạn chế về nguồn tài chính, môi trường làm việc cũng như chế độ đãi ngộ nên DNNVV khó tuyển dụng được lao động có trình độ và tay nghề cao.
Thực tế này dẫn đến tình trạng DNNVV gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong quản trị tài chính và xây dựng, quản lý, thực hiện các dự án đầu tư/phương án sản xuất kinh doanh. Thứ tư, đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp năng động nhưng năng lực quản trị chưa cao. DNNVV có đặc điểm là số lượng lao động hạn chế, công tác quản lý thường do chủ doanh nghiệp trực tiếp thực hiện, xử lý công việc hầu như được chuyển thẳng từ chủ doanh nghiệp đến từng nhân viên mà không cần qua nhiều cấp quản lý trung gian. Điều này làm hiệu quả quản trị điều hành của DNNVV tăng lên, tiết kiệm được chi phí quản lý, nhanh chóng.
Tuy nhiên, việc phân công công việc trong DNNVV thường có hiện 14 tượng đa nhiệm, mức độ chuyên môn hóa không cao, người lao động phải đảm nhận nhiều công việc chuyên môn khác nhau. Thứ năm, DNNVV có khả năng tiếp cận thị trường thấp, gặp nhiều khó khăn khi hội nhập kinh tế quốc tế. DNNVV thường không dành kinh phí lớn cho hoạt động marketing nên việc xây dựng và định vị thương hiệu trên thị trường còn nhiều hạn chế, khó vươn ra thị trường quốc tế. Thị phần của DNNVV không lớn, khả năng chi phối thị trường không cao.
Thị trường thường phản ứng ít quyết liệt, thậm chí không có phản ứng trước những thay đổi chiến lược kinh doanh của DNNVV.2 Vốn tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của DNNVV huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Vốn là một yếu tố đầu vào đặc biệt quan trọng của DNNVV, cấu trúc vốn của DNNVV gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay. Để có đủ vốn cho sản xuất kinh doanh, các DNNVV thường huy động từ nhiều nguồn khác nhau như: vốn góp của các cổ đông, vốn tín dụng ngân hàng, vay người thân, bạn bè, tín dụng thương mại,. Tùy theo điều kiện và loại hình mà DNNVV huy động linh hoạt, kết hợp có hiệu quả vốn chủ sở hữu và vốn vay trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu và tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp.
NHTM là một trung gian tài chính, vừa đóng vai trò là “người đi vay” thông qua việc huy động vốn tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế, vừa đóng vai trò là “người cho vay” để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Do đó, thuật ngữ “tín dụng ngân hàng” một mặt nói tới hoạt động huy động vốn, đồng thời mặt khác nói tới hoạt động cấp tín dụng của NHTM. Trong luận văn này, tín dụng ngân hàng được đề cập trên khía cạnh hoạt động cho vay của NHTM đối với DNNVV. Do vậy, tín dụng ngân hàng được hiểu là việc NHTM chuyển giao cho khách hàng (DNNVV) một khoản tiền để khách hàng (DNNVV) sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh, trong một khoảng thời gian nhất định với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn.
15 Từ những phân tích trên, luận văn thống nhất khái niệm vốn tín dụng ngân hàng được hiểu là khoản tiền mà NHTM cho DNNVV vay để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh.3 Khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Khái niệm Thuật ngữ “Khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng” đã được một số nghiên cứu đề cập tới, tuy nhiên cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra khái niệm đầy đủ về thuật ngữ này. Nguyễn Thị Kim Lý (2013) trong luận án tiến sĩ “Nghiên cứu khả năng tiếp cận vốn cho các DNNVV ở tỉnh Thái Bình” cho rằng: “Khả năng tiếp cận vốn là khả năng của doanh nghiệp nghiên cứu, nhận biết, nắm bắt và có thể được cung ứng vốn với các chi phí vốn thấp nhất, có thể chấp nhận được bởi cả hai phía là doanh nghiệp (người cần vốn) và người cung cấp vốn”. Đặng Thị Huyền Hương (2016) trong luận án tiến sĩ “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tiếp cận nguồn vốn vay của các DNNVV trên địa bàn Hà Nội” cho rằng: “Sự tiếp cận nguồn vốn vay của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp có thể đáp ứng được các điều kiện vay vốn theo quy định của các tổ chức tín dụng tại mức lãi suất phù hợp và tổ chức tín dụng sẵn sàng cho vay.” Đặng Thị Thu Hằng (2017) trong bài báo “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đi vay của doanh nghiệp” cho rằng: “Khả năng đi vay của khách hàng là khả năng của khách hàng để được nhận và sử dụng nguồn vốn vay từ ngân hàng”. Các nghiên cứu trên đã phần nào khái quát được nội dung khái niệm “khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng”, tuy nhiên các nghiên cứu đó chưa diễn đạt được nội hàm khái niệm khi sử dụng chính các cụm từ “khả năng”, “tiếp cận” để diễn đạt trong khái niệm.
Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này, khái niệm “khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng" của DNNVV được hiểu như sau: Khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng 16 của DNNVV là việc DNNVV có thể vay được tiền của NHTM khi có nhu cầu sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.2 Các hình thức tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Đi vay Đi vay là việc DNNVV nhận từ NHTM một khoản tiền để sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi cho NHTM. DNNVV thường sử dụng hình thức vay theo món hoặc vay theo hạn mức tín dụng khi tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.2 Chiết khấu Chiết khấu là việc DNNVV bán các công cụ chuyển nhượng hoặc giấy tờ có giá khác còn thời hạn thanh toán cho NHTM. Khi đó, NHTM sẽ ứng trước tiền cho DNNVV tương ứng với giá trị của giấy nhận nợ trừ đi phần thu nhập của NHTM. Khi đến hạn thanh toán của giấy tờ có giá, NHTM sẽ thực hiện đòi tiền người mua hàng của DNNVV.3 Thuê tài chính Thuê tài chính là việc DNNVV thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển,…của NHTM trên cơ sở hợp đồng thuê tài chính giữa NHTM và DNNVV.
Đây là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn của NHTM cho DNNVV, trong đó NHTM (bên cho thuê) cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển,… theo yêu cầu của DNNVV và NHTM sẽ nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê.