Chương 1 chỉ ra tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của việc phân tích yếu tố ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, đề tài đưa ra 03 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được giải quyết thông qua 03 câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Tiếp theo, đề tài trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là 25 NHTMCP tại Việt Nam trong 12 năm, giai đoạn từ 2010 – 2021. Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên nền tảng thừa kế và mở rộng các nghiên cứu trước đó để cập nhật các yếu tố ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu của các NHTMCP Việt Nam.
Cuối c ng, chương này trình bày kết cấu khóa luận gồm 05 chương và sơ lược về nội dung chính của mỗi chương. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về thị giá cổ phiếu, lý thuyết về ngân hàng thương mại; lý luận chung về các yếu tố ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu của các ngân hàng thương mại cổ phần và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến đề tài yếu tố ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. THỊ GIÁ CỔ PHIẾU 2. Cổ phiếu Theo Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011) vốn của công ty cổ phần đƣợc tạo ra từ sự góp vốn của nhiều ngƣời.
Vốn điều lệ của công ty cổ phần đƣợc chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần, ngƣời góp vốn và doanh nghiệp bằng cách mua cổ phiếu của doanh nghiệp gọi là cổ đông. Cổ phiếu (Stock or Share) là giấy tờ phản ánh quyền sở hữu của các cổ đông và xác nhận việc góp vốn kinh doanh vào công ty cổ phần. Ngoài ra, cổ phiếu là hàng hóa đặc trƣng của thị trƣờng chứng khoán, do đó giá cổ phiếu chịu sự chi phối của quy luật cung cầu. Cổ phiếu đƣợc phân loại theo nhiều yếu tố, bao gồm loại cổ phiếu, quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho ngƣời nắm giữ, đặc điểm phát hành, hình thức sở hữu, v.
Trong đó, phân loại theo quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho ngƣời nắm giữ là một trong những cách phân loại thƣờng đƣợc sử dụng. Thông thƣờng hiện nay các công ty cổ phần thƣờng phát hành hai dạng cổ phiếu là: Cổ phiếu thƣờng (cổ phiếu phổ thông) và cổ phiếu ƣu đãi. 9 + Cổ phiếu thƣờng (cổ phiếu phổ thông) với đặc điểm: Quyền tự do chuyển nhƣợng; Quyền biểu quyết đối với các quyết định của công ty tại Đại hội cổ đông; Đƣợc hƣởng cổ tức theo kết quả kinh doanh và giá trị cổ phiếu đang nắm giữ hiện tại. + Cổ phiếu ƣu đãi với đặc điểm: Lợi tức ổn định; Không có quyền đƣợc bầu cử, ứng cử; Đƣợc nhận cổ tức đầu tiên.
Khi công ty bị phá sản thì họ cũng là những ngƣời đƣợc công ty trả trƣớc sau đó mới đến cổ đông thƣờng. Giá thị trƣờng của cổ phiếu Theo Nguyễn Minh Kiều (2020) giá trị thị trƣờng hay thị giá cổ phiếu (Market value of shares) là giá đƣợc giao dịch trên thị trƣờng chứng khoán tại bất kỳ thời điểm cụ thể nào. Giá thị trƣờng có thể cao hơn, thấp hơn hoặc bằng giá trị thực của nó tại thời điểm giao dịch, tùy thuộc vào kết nối cung cầu. Nhiều biến số kinh tế, chính trị và xã hội tác động đến kết nối cung cầu của cổ phiếu, trong đó quan trọng nhất là giá thị trƣờng và khả năng sinh lời của công ty.
Hơn nữa, giá trị thị trƣờng của cổ phiếu phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tƣ đối với kết quả hoạt động kinh doanh và lợi nhuận của công ty trong tƣơng lai. Giá cổ phiếu thu đƣợc từ kết quả của các lệnh giao dịch xác định và đo lƣờng giá thị trƣờng của cổ phiếu. Nhiều biến số cả bên trong và bên ngoài công ty đều ảnh hƣởng đến giá trị thị trƣờng của cổ phiếu. Sự thay đổi giá giao dịch của cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán đƣợc gọi là sự biến động của thị trƣờng.
Khi giá cổ phiếu của một công ty chênh lệch đáng kể so với giá trị trung bình của cổ phiếu trong một thời kỳ nhất định, nó đƣợc cho là cực kỳ biến động; ngƣợc lại, một cổ phiếu đƣợc coi là biến động thấp. Ngoài ra, tiềm năng phát triển của các tập đoàn trong việc xây dựng giá trị thông qua các quyết định và chiến lƣợc hoạt động đúng đắn. Và mặt khác đƣợc thể hiện ở bề mặt của những sự thay đổi về giá trị cổ đông trên thị trƣờng tài chính (đặc biệt là trên thị trƣờng chứng khoán) đƣợc nhấn mạnh bởi Mocciaro Li Destri, Picone & Minà (2012). Bản chất của các giá trị thị trƣờng Theo Đinh Thùy Dung (2022) giá trị thị trƣờng cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, chẳng hạn nhƣ lĩnh vực mà công ty hoạt động, khả năng sinh lời, khối lƣợng nợ và môi trƣờng thị trƣờng rộng lớn.
Bên cạnh đó, chu kỳ kinh doanh cũng có ảnh hƣởng lớn đến giá trị thị trƣờng và có thể thay đổi đáng kể theo thời gian. Giá trị thị trƣờng lao dốc trong thời kỳ thị trƣờng giá xuống đi kèm với suy thoái và tăng vọt trong thời kỳ thị trƣờng tăng giá xảy ra trong quá trình mở rộng nền kinh tế. Giá trị thị trƣờng của một công ty có thể chênh lệch đáng kể so với giá trị sổ sách hoặc vốn chủ sở hữu của cổ đông. Cổ phiếu thƣờng bị coi là định giá thấp nếu nó đƣợc giao dịch với mức chiết khấu sâu so với giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu hay nói cách khác là khi giá trị thị trƣờng của nó thấp hơn nhiều so với giá trị sổ sách của nó.
Nếu một cổ phiếu đang giao dịch ở mức cao hơn giá trị sổ sách, thì điều này không phải lúc nào cũng cho thấy rằng nó đƣợc định giá quá cao vì điều này một lần nữa phụ thuộc vào ngành và mức phí bảo hiểm so với các cổ phiếu cùng ngành. NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN 2. Khái niệm ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngân hàng thƣơng mại là một loại hình doanh nghiệp, khác với NHNN là một tổ chức kinh doanh trong hoạt động kinh tế. Cũng nhƣ những doanh nghiệp khác, NHTMCP sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất ra sản phẩm dƣới hình thức là cung cấp dịch vụ tài chính.
Tuy nhiên, không giống những doanh nghiệp khác, ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, trong đó vốn và tiền vừa là phƣơng tiện, mục đích và cũng là đối tƣợng kinh doanh của ngân hàng. Ngành ngân hàng thƣờng xuyên phải đối mặt với nhiều sự mạo hiểm và phải chịu một lƣợng rủi ro nhất định do vốn tự có của ngân hàng thƣờng thấp và phụ thuộc vào vốn của các cá nhân khác. Ngân hàng phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu thanh toán tiền gửi của khách hàng bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của khách hàng nhƣ các công ty khác. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro, tình 11 hình tài chính và rủi ro của ngân hàng có ảnh hƣởng rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp và nền kinh tế cũng nhƣ tâm lý ngƣời dân do bản chất lây lan rủi ro ngân hàng có thể làm rung chuyển toàn hệ thống kinh tế.
Với tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, các ngân hàng thƣơng mại cổ phần cũng đẩy mạnh phát triển hơn nữa và trở thành tổ chức tài chính quan trọng. Sự mở rộng của hệ thống ngân hàng thƣơng mại cổ phần đã có ảnh hƣởng to lớn và đáng kể đến sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá.Rose (2001) “Ngân hàng là loại hình thức tổ chức tài chính cung cấp một dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và cũng thể hiện nhiều chức năng nhất với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Theo luật pháp nƣớc Mỹ: “Bất kì một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (nhƣ bằng cách viết séc hay rút tiền điện tử) cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thƣơng mại thì sẽ xem là một ngân hàng”. Ở Ấn Độ, ngân hàng thƣơng mại là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tƣ.
Còn ở Thổ Nhĩ Kỳ, NHTMCP là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mƣợn khác v. Từ những nhận định trên, có thể thấy các NHTMCP là một trong những định chế tài chính đƣợc phân biệt bằng cách cung cấp nhiều dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Các ngân hàng thƣơng mại cổ phần cũng cung cấp một loạt các dịch vụ khác để đáp ứng nhu cầu hàng hoá và dịch vụ ở mức cao nhất của xã hội. Vai trò của ngân hàng thƣơng mại cổ phần Với bốn chức năng cơ bản của NHTMCP là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, chức năng tạo tiền và chức năng thủ quỹ đã thể hiện rõ nét vai trò quan trọng của tổ chức tài chính đối với nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
12 Trƣớc hết, vai trò trung gian tín dụng, NHTMCP là cầu nối giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay. Họ sẽ chuyển các khoản tiển tiết kiệm của ngƣời gửi tiền đến những cá nhân, tổ chức có nhu cầu vay vốn để đầu tƣ, kinh doanh. Trên thị trƣờng tín phiếu và trái phiếu do chính phủ phát hành để tài trợ cho các công trình công cộng, các NHTMCP cũng chiếm một cổ phần đáng kể. Ngoài ra, các NHTMCP còn là nguồn cung cấp vốn lƣu động, tài trợ trung hạn và dài hạn đáng kể cho các doanh nghiệp.
Từ đó, có thể giúp cho thoả mãn nhu cầu vốn tạm thời thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời tiết kiệm chi phí, thời gian, an toàn và hợp pháp. Vai trò trung gian thanh toán, các ngân hàng thƣơng mại cổ phần đóng vai trò là ngƣời thanh toán khi khách hàng mua sản phẩm và dịch vụ bằng cách phát hành séc, thanh toán bù trừ, cung cấp mạng thanh toán điện tử, v. Từ đó, có thể khuyến khích việc thu hút các khoản tiền gửi từ khách hàng.