Chương 1 trình bày lí do thực hiện đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và kết cấu của luận văn cũng được trình bày trong phần này. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này giới thiệu các lý thuyết về hành vi dự định và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra mô hình nghiên cứu lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu Chương này giới thiệu trình tự nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu được ứng dụng. Hơn nữa, đề tài trình bày cách thức lấy mẫu, quy trình xử lý dữ liệu nghiên cứu, đánh giá mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu Chương 4 giới thiệu mẫu nghiên cứu chính thức. Ngoài ra, quy trình phân tích dữ liệu gồm có: đánh gia thang đo bằng hệ số Cronbach’s -9- Alpha, phân tích yếu tố EFA, đánh giá mô hình lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu.
Kết luận và hàm ý cho nhà chính sách Chương 5 kết luận lại kết quả nghiên cứu đạt được. Từ đó, đề tài tiến hành đưa ra các hàm ý chính sách nâng cao sự tham gia của người dân trong việc xây dựng, duy tu nâng cấp các tuyến đường tại TP. Ngoài ra, nghiên cứu đưa ra một số hạn chế và đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục -10- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Khái niệm nghiên cứu 2. Khái niệm nghiên cứu về sự tham gia Sự tham gia là một quá trình mà trong đó cá nhân tham gia vào việc ra quyết định trong tổ chức, môi trường và chương trình có ảnh hưởng đến họ (Florin và Paul, 1990). Sự tham gia là một quá trình mà người dân có thể tạo khả năng nhạy cảm, làm tăng khả năng tiếp thu và năng lực của họ để đáp ứng các nhu cầu phát triển của địa phương. Quá trình này hướng tới sự nâng cao năng lực tự quản các nguồn lực và xây dựng tổ chức trong những hoàn cảnh nhất định.
Sự tham gia bao gồm việc thực hiện, ra quyết định, thỏa thuận lợi ích và đánh giá các hoạt động phát triển của người dân (Peter Oakley, 1991). Sự tham gia là một quá trình tham gia trong những hoạt động của cuộc sống hoặc là quá trình trải qua các hoạt động theo sự thấu hiểu vấn đề mà trong thực tế khu vực họ đang sống (Van de Valde và cộng sự, 2010) Nhìn chung, sự tham gia là sự đóng góp bằng hoạt động của mình vào chương trình hay tổ chức nào đó. Là một quá trình thể hiện ở đó có sự bàn bạc cởi mở, bình đẳng giữa cơ quan thực hiện dự án, cán bộ quản lý với cư dân địa phương. Trong đó, ý kiến và kiến thức của người dân phải được khám phá và tôn trọng.
Người dân là yếu tố quan trọng trong việc bàn bạc này. Khi đưa ra kết luận cuối cùng để triển khai dự án hoặc kế hoạch phát triển phải được người dân thống nhất và đồng ý. Sự tham gia của xã hội Sự tham gia của cộng đồng” theo hai thuật ngữ thành phần “sự tham gia” và “cộng đồng”. Sự tham gia được hiểu là quá trình đối thoại giữa cộng đồng và người ra quyết định, giữa một bên là cá nhân và nhóm tổ chức, một bên là “nhóm chính quyền” trong việc thảo luận và ra các quyết định (Harding và cộng sự, 2009).
Scand (2013) khái niệm về sự tham gia của xã hội có tính tương đồng và tương quan đến khái niệm về các vấn đề của tham gia xã hội, hòa nhập xã hội hoặc các hoạt động của xã hội 2. Cơ sở hạ tầng giao thông nội bộ Cơ sở hạ tầng - hạ tầng kỹ thuật: Cơ sở hạ tầng bao gồm cơ sở vật chất cần thiết cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một khu vực. Có thể chia cơ sở hạ tầng làm 03 hệ thống: hạ tầng sản xuất, hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật; Hạ tầng kỹ thuật bao gồm các công trình giao thông vận tải hàng hóa và hành khách (gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không, các cơ sở dịch vụ kỹ thuật cho giao thông), hệ thống cung cấp năng lượng cho sản xuất và tiêu dùng (điện, xăng dầu, khí đất, nước…), hệ thống chiếu sáng công cộng, hệ thống thu gom và xử lý rác, hệ thống cấp và thoát nước mưa và hệ thống kỹ thuật - thông tin, bưu chính - viễn thông. Có thể nói cơ sở hạ tầng kỹ thuật là hệ thống cơ sở vật chất, thiết bị cơ bản, cố định có tính chất nền tảng của một quốc gia như đường xá, đường sắt, nhà ga, bến cảng kho bãi, phi trường, mạng cấp thoát nước, điện, mạng viễn thông (Từ điển tiếng Anh, Oxford).
Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ là một hệ thống các vật chất kỹ thuật, công trình có chức năng phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của -12- xã hội, bao gồm các công trình và mạng lưới giao thông vận tải đường bộ, như: đường tỉnh lộ, quốc lộ, đường giao thông ở nông thôn, đô thị (Lê Văn Tịnh, 2013). Lý thuyết nền nghiên cứu 2. Lý thuyết hành vi dự định Hành vi dự định (Planned Behavior): là dự đoán ý định của một cá nhân tham gia vào một hành vi tại một địa điểm và thời gian. Nó đặt ra rằng hành vi cá nhân được điều khiển bởi ý định hành vi.
Trong đó, ý định hành vi là một chức năng của 03 yếu tố quyết định: Thái độ cá nhân đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức (Ajzen 1991). Thái độ đối với hành vi (Attitude toward Behavior): Điều này liên quan đến mức độ mà một cá nhân có cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực của hành vi đang quan tâm. Nó đòi hỏi nên xem xét kết quả của việc thực hiện hành vi (Ajzen, 1991). Chuẩn mực chủ quan (Subjective Norm): Đề cập đến niềm tin về việc những cá nhân quan trọng khác nghĩ rằng anh ta hoặc cô ta sẽ thực hiện hành vi.
Nó liên quan đến vấn đề nhận thức của một người về môi trường xã hội xung quanh hành vi (Ajzen 1991). Kiểm soát hành vi nhận thức (Perceived Behavioral Control): Điều này đề cập đến nhận thức của cá nhân về mức độ thực hiện của hành vi là dễ hay khó (Ajzen, 1991). Nó tăng lên khi cá nhân nhận thức được họ có nhiều nguồn lực và sự tự tin (Ajzen, 1985; Hartwick & Barki, 1994; Lee & Kozar, 2005). -13- Ý định hành vi (Behavioral Intention): Đây là một biện pháp ủy quyền cho hành vi.
Nó đại diện cho động lực của một người theo nghĩa kế hoạch có ý thức của người đó hoặc quyết định thực hiện một số hành vi nhất định (Conner & Armitage, 1998). Nói chung, ý định càng cao thì hành vi càng có khả năng sẽ thực hiện. Lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) của Ajzen (1991) 2. Lý thuyết hành vi dự định của Ajzen (2006) Theo lý thuyết về hành vi dự định sửa đổi 2006, “hành động của con người” được hướng dẫn bởi ba loại cân nhắc: Niềm tin về kết quả có thể có của hành vi và đánh giá của những kết quả này (niềm tin hành vi), niềm tin về những kỳ vọng chuẩn mực của người khác và động lực để tuân thủ những kỳ vọng này (niềm tin chuẩn mực) và niềm tin về sự hiện diện của các yếu tố, điều đó có thể tạo điều kiện hoặc cản trở việc thực hiện hành vi và sức mạnh nhận thức của những hành vi này (niềm tin kiểm soát).
Lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) của Ajzen (2006) Trong một tập hợp tương ứng, niềm tin hành vi tạo ra một thuận lợi hoặc thái độ bất lợi đối với hành vi; niềm tin chuẩn mực dẫn đến áp lực xã hội chuẩn mực chủ quan; và niềm tin kiểm soát làm phát sinh sự kiểm soát hành vi nhận thức. Kết hợp, thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức dẫn đến hình thành ý định hành vi. Theo nguyên tắc chung, thái độ và chuẩn mực chủ quan càng thuận lợi, và sự kiểm soát nhận thức càng lớn, con người càng mạnh ý định thực hiện hành vi. Cuối cùng, đưa ra một mức độ kiểm soát thực tế về hành vi, mọi người dự kiến sẽ thực hiện ý định của họ khi có cơ hội.
Do đó, ý định được coi là tiền đề của hành vi. Tuy nhiên, vì nhiều hành vi gây khó khăn cho việc thực thi có thể hạn chế kiểm soát ý chí, rất hữu ích để xem xét nhận thức kiểm soát hành vi ngoài ý định. Đến mức kiểm soát hành vi nhận thức là hợp lý, nó có thể phục vụ như một ủy quyền cho kiểm soát thực tế và góp phần dự đoán các hành vi (Ajzen, 2006). Một số nghiên cứu có liên quan 2.
Nghiên cứu ngoài nước Dựa trên mô hình Lý thuyết hành vi dự định của Ajzen, nghiên cứu của Hana và cộng sự (2010) đã đề xuất và thử nghiệm để giải thích “sự hình thành ý định của khách hàng đến thăm một khách sạn xanh”. Phù hợp với lý thuyết, kết quả phân tích phương trình cấu trúc cho thấy thái độ, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức ảnh hưởng tích cực đến ý định ở lại khách sạn xanh. Cameron và cộng sự (2012) vận dụng mô hình Lý thuyết về hành vi dự định của Ajzen dự đoán rằng các hành vi dự định được xác định bởi ý định hành vi mà phần lớn bị ảnh hưởng bởi thái độ cá nhân đối với hành vi, các chuẩn mực chủ quan bao trùm việc thực hiện hành vi và nhận thức cá nhân về sự kiểm soát hành vi của họ (Ajzen, 1975) để sử dụng dự đoán một loạt các hành vi sử dụng các trang web mạng xã hội (Social networking sites - SNS) của sinh viên. Các trang web mạng xã hội được định nghĩa là các sản phẩm trực tuyến như Facebook, MySpace, Twitter hoặc các trang web khác tập trung vào việc duy trì và/ hoặc xây dựng mối quan hệ.
Mô hình nghiên cứu của Cameron và cộng sự (2012) Huang và cộng sự (2014) đã tiến hành nghiên cứu nhằm phát triển một mô hình dự đoán về hành vi của người tiêu dùng trong việc tổng hợp lý thuyết về hành vi dự định và động lực của người tiêu dùng để nghiên cứu “dự đoán hành vi sử dụng phương tiện giao thông công cộng”.