CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI Chương này trình bày sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp tiến hành nghiên cứu đồng thời nêu đối tượng, phạm vi, ý nghĩa nghiên cứu và bố cục của luận văn. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN Chương này trình bày tổng hợp, hệ thống các lý thuyết nền và các khái niệm nghiên cứu, tổng quan các nghiên cứu trước đây, gồm cả trong nước và quốc tế. Từ đó, luận văn đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết liên quan. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN BÁN LẺ TẠI CHXD CỦA CÔNG TY PVOIL VŨNG TÀU Trình bày quy trình và phương pháp nghiên cứu; Ngoài ra, nghiên cứu còn đưa ra cách thức chọn mẫu, các bước xử lý dữ liệu, phương pháp kiểm định mô hình, kiểm định giả thuyết để phân tích mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng giữa các khái niệm nghiên cứu.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương này trình bày đặc điểm mô hình Công ty. Tiếp theo, các bước kỹ thuật phân tích bao gồm: Đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan và hồi quy. Luận văn kiểm định các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất ban đầu và thảo luận kết quả nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ Chương này khái quát những kết quả nghiên cứu đạt được, trên cơ sở đó, nghiên cứu tiến hành đưa ra các hàm ý quản trị nhằm gia tăng mức độ hài lòng của CBCNV làm việc tại CHXD của Công ty.
Ngoài ra, nghiên cứu đưa ra một số hạn chế và đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN 2. Khái niệm về sự hài lòng trong công việc Khái niệm sự hài lòng công việc: Một người được xem là có sự hài lòng trong công việc thì người đó sẽ có cảm giác thoái mái, dễ chịu đối với công việc của mình. Liên quan đến nguyên nhân nào dẫn đến sự hài lòng công việc thì mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn riêng, lý giải riêng qua các công trình nghiên cứu của họ.
Ví dụ như : ✓ Theo Locke (1976), sự hài lòng đối với công việc là một trạng thái tình cảm hoặc tích cực hoặc vui vẻ đạt được qua trải nghiệm trong công việc của một người hoặc kinh nghiệm làm việc của người đó. ✓ Theo định nghĩa của Trường Đại học Oxford về hài lòng đối với công việc (Job satisfaction) là “Cảm giác hay đáp ứng cảm xúc mà con người trải qua khi thực hiện một công việc”. ✓ Theo định nghĩa trong từ điển của Trường Đại học Cambridge, “Sự hài lòng đối với công việc là cảm giác của niềm vui và thành tích mà bạn trải qua trong công việc của bạn khi bạn biết rằng công việc của bạn là đáng làm, hoặc mức độ mà công việc của bạn mang đến cho bạn cảm giác này”. Nhiều người quan tâm hơn về việc họ có hài lòng với công việc họ đang làm hay không, hơn là mức lương được trả cho công việc đó.
✓ Theo Smith (1983) lại có quan điểm đơn giản hơn, ông cho rằng sự hài lòng với công việc chính là cảm giác mà nhân viên cảm nhận về công việc của họ. Theo Siegal và Lance (1987) lại cho rằng hài lòng đối với công việc gắn kết 7 với sự biểu hiện cảm xúc của họ, nó phản ảnh được họ có đang yêu thích công việc của mình hoặc ngược lại. ✓ Theo nghiên cứu của tác giả Trần Kim Dung (2005), sự hài lòng đối với công việc của nhân viên được định nghĩa và đo lường theo cả hai khía cạnh: “hài lòng nói chung” đối với công việc và “hài lòng theo các yếu tố thành phần” của công việc. Còn trong nghiên cứu này, tác giả cho rằng nếu bản thân cảm thấy hài lòng với công việc của mình, mỗi ngày đến công ty thay vì chán chường lại khiến ta vui vẻ, nghĩa là ta đang hài lòng với công việc.
Nếu thật sự không thích công việc của mình, nghĩa là ta đang không hài lòng với nó. Các lý thuyết về hài lòng công việc 2. Lý thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943) Theo Maslow (1943) , nhu cầu của con người được chia làm 5 cấp bậc, tăng như sau: 1. Nhu cầu cơ bản: Trả một mức lương công bằng và xứng đáng với vị trí, năng lực làm việc.
Đồng thời, mức lương đó phải đảm bảo những chi tiêu tối thiểu cho nhân viên cũng như gia đình họ. Ngoài ra nên có thêm các khoản phụ cấp: Xăng xe, ăn trưa, phụ cấp chức vụ, phụ cấp độc hại,… Có chế độ nghỉ ngơi và làm việc phù hợp. Đáp ứng nhu cầu an toàn: Công ty phải đảm bảo được điều kiện làm việc tốt cho nhân viên. Thể hiện thông qua việc thực hiện ký kết hợp đồng lao động, tuân thủ quy định của pháp luật về việc đóng BHYT, BHXH, BHTN và bảo hiểm tai nạn cho nhân viên.
Đảm bảo đáp ứng nhu cầu xã hội: Bằng việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp, làm việc theo đội nhóm, hình thành công đoàn, các khối phòng ban… Tổ chức cho công ty đi du lịch, teambuilding, hoạt động ngoại khóa… 8 4. Nhu cầu được tôn trọng: Nên có con đường thăng tiến rõ ràng cho nhân viên về cả mức lương lẫn vị trí làm việc. Trao quyền hạn đi liền với trách nhiệm. Có các cơ chế thưởng, phạt công bằng, khuyến khích nhân viên.
Nhu cầu thể hiện bản thân: Nhà quản lý cung cấp cơ hội phát triển những thế mạnh của cá nhân. Cân nhắc các vị trí lãnh đạo cho người xuất sắc nhất. Cho nhân viên được đóng góp, được lên tiếng nói cho sự phát triển của công ty. Tháp nhu cầu cấp bậc của Maslow (Nguồn: Maslow, 1943) Theo thuyết này, sự hài lòng của NLĐ được thể hiện qua từng cấp bậc từ thấp đến cao, cấp bậc cao sẽ xuất hiện khi cấp bậc thấp được thỏa mãn.
Do đó, người quản lý nhân lực cần hiểu rõ nhu cầu của NLĐ đang ở cấp bậc nào để xây dựng chính sách phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của NLĐ. Hiện nay, các đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của NLĐ trong công việc thường sử dụng Thuyết Maslow để làm cơ sở đánh giá, xây dựng các yếu tố ảnh hưởng. Lý thuyết về nhu cầu của McClelland (1940) 9 Theo lý thuyết của ông, hầu hết mọi người đều sở hữu và thể hiện sự kết hợp của những nhu cầu này: những người có nhu cầu thành tích cao bị thu hút bởi những tình huống đưa ra trách nhiệm giải trình cá nhân; cá nhân có nhu cầu thống trị và quyền lực có mong muốn gây ảnh hưởng và nâng cao vị thế và uy tín cá nhân; và cuối cùng, những người có nhu cầu lớn về giá trị liên kết xây dựng các mối quan hệ bền chặt và lệ thuộc các nhóm hoặc tổ chức. Lý thuyết này tập trung vào 3 nhu cầu: quyền lực, thành tích, và liên minh.
✓ Nhu cầu quyền lực: Là nhu cầu kiểm soát và ảnh hưởng đến người khác và môi trường làm việc của họ. ✓ Nhu cầu thành tích: Người có nhu cầu thành tích cao là người luôn quyết tâm giải quyết công việc tốt hơn, nhanh hơn. ✓ Nhu cầu liên minh: mong muốn có mối quan hệ thân thiện và gần gũi với mọi người xung quanh. Lý thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) Thuyết hai nhân tố của Herzberg cho rằng có hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến động lực của nhân viên tại nơi làm việc.
Các nhân tố liên quan đến bất mãn được gọi là các nhân tố duy trì - nhân tố bên ngoài. Các nhân tố liên quan đến sự thỏa mãn đối với công việc được gọi là nhân tố động viên - nhân tố bên trong. 10 Nhân tố động lực (Motivation Factor) Nhân tố duy trì (Hygiene Factor) ✓ Thành tựu ✓ Điều kiện công việc ✓ Chất lượng giám sát ✓ Công nhận thành tựu ✓ Lương bổng ✓ Trách nhiệm công việc ✓ Địa vị, vị thế công ty ✓ An toàn ✓ Quan tâm công việc ✓ Làm việc theo nhóm ✓ Tiến bộ công việc mức độ cao hơn ✓ Tính chất công việc ✓ Chính sách và quy định công ty ✓ Tăng trưởng, trưởng thành ✓ Quan hệ cá nhân Kịch bản phối hợp nhân tố động lực và nhân tố duy trì Đông lực tốt + duy trì tốt: Tình huống lý tưởng, nhân viên được động viên nhiều hơn, ít có bị phàn nàn. Động lực kém + duy trì tốt: Tình huống nhân viên có ít bị phàn nàn nhưng không được động viên.
Công việc chỉ nhận đúng tiền lương. Động lực tốt + duy trì kém: Tình huống nhân viên được động viên nhiều nhưng cũng bị phàn nàn nhiều. Tiền lương và điều kiện làm việc không tương xứng. Động lực kém + duy trì kém: Tình huống xấu nhất, nhân viên chẳng những không được động viên, mà còn bị phàn nàn nhiều.net/methods_herzberg_two_factor_theory.
Thuyết hai nhân tố của Herzberg (Nguồn: https://kynangquantri.com/thuyet-hai-nhan-to-cua-herzberg.html) 11 Học thuyết này giúp cho các nhà quản trị biết được các nhân tố gây ra sự bất mãn cho CBCNV và từ đó tìm cách loại bỏ những nhân tố này. Ví dụ, CBCNV có thể bất mãn với công việc vì mức lương của họ quá thấp, cấp trên giám sát quá nghiêm khắc, quan hệ với đồng nghiệp không tốt. Như vậy, nhà quản trị phải tìm cách cải thiện mức lương, giảm bớt giám sát và xây dựng tình đồng nghiệp tốt hơn. Tuy nhiên khi các nhân tố gây bất mãn được loại bỏ thì cũng không có nghĩa là CBCNV sẽ hài lòng.
Nếu muốn động viên, làm cho họ hài lòng trong công việc thì người quản trị cần chú trọng đến những yếu tố như sự thành đạt, sự thừa nhận và giao việc. Lý thuyết công bằng của Adam (1963) Lý thuyết của Adams cho rằng NLĐ so sánh những gì họ bỏ vào một công việc (đầu vào) với những gì họ nhận được từ công việc đó (đầu ra) (gọi là công bằng cá nhân) và sau đó so sánh tỷ suất đầu vào - đầu ra của họ với tỷ suất đầu vào - đầu ra của những người khác (gọi là công bằng xã hội). Nếu tỷ suất của họ là ngang bằng thì người ta cho rằng đang tồn tại một tình trạng công bằng và ngược lại.