Chương 1 trình bày tổng quan về đề tài nhằm đưa ra bức tranh khái quát về đề tài nghiên cứu. Tác giả trình bày lý do lựa chọn đề tài, đồng thời cũng giới thiệu mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu của đề tài. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Sự hài lòng trong công việc Sự hài lòng trong công việc là cách mà nhân viên đánh giá đối với các khía cạnh công việc mà họ đang làm (Dessler, 2019), định nghĩa này cũng tương đồng với quan điểm của George và Jones (2008) khi cho rằng sự hài lòng trong công việc là tập hợp những niềm tin và cảm giác về công việc. Nghĩa là, nhân viên có thể cảm nhận tích cực hoặc tiêu cực về công việc (Weiss, 2002) và cảm nhận liên quan đến công việc có thể xuất hiện từ bên trong hoặc bên ngoài bản thân (Bhuian, 2002).
Sự hài lòng công việc là mức độ người lao động yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên nhận thức của người lao động về công việc của họ (Kreitner và Kinicki, 2007). Khi công việc thỏa mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của nhân viên, sự hài lòng sẽ xuất hiện (Aziri, 2011). Có thể thấy chưa có sự thống nhất trong các định nghĩa. Trong đề tài này, để đơn giản, sự hài lòng trong công việc là mức độ hoặc thái độ của cá nhân về công việc của họ.2 Lợi ích của sự hài lòng trong công việc Khi nhân viên hài lòng với công việc, tổ chức sẽ được lợi ích như sau: Tăng năng suất làm việc: Nhân viên có thái độ tích cực hơn, có động lực để nỗ lực cống hiến cho công ty.
Luôn chủ động hoàn thành công việc tốt nhất có thể. Giảm thiểu biến động tiêu cực trong nhân sự: Nhân viên sẽ muốn gắn bó lâu dài và thường không bị dao động bởi các tổ chức khác. Chất lượng dịch vụ cung cấp đến khách hàng sẽ tốt hơn. Giảm thiểu rủi ro trong công việc.
Nhân viên có trách nhiệm hơn với công việc.3 Công chức Theo Điều 1 Luật sửa đổi Luật cán bộ, công chức năm 2019: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà 6 nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế và không làm việc theo hợp đồng. Công chức được nhận tiền lương từ Ngân sách Nhà nước và có nghĩa vụ thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao theo quy định. Có ý thức tổ chức, kỷ luật, chấp hành đầy đủ nội quy, quy chế của cơ quan; kịp thời phát hiện báo cáo những hành vi sai phạm; bảo vệ bí mật nhà nước.
Sử dụng tài sản, nguồn vốn của nhà nước đúng mục đích và hiệu quả. Giữ gìn đoàn kết nội bộ, phối hợp trong thi hành công vụ, tuân thủ theo mệnh lệnh và thực hiện các nội dung khác theo quy định của pháp luật.2 Tổng quan các lý thuyết có liên quan 2.1 Lý thuyết nhu cầu Maslow (1943) Năm 1943, nhà tâm lý học A. Maslow đã đưa tháp nhu cầu trong bài viết A Theory of Human Motivation. Tháp nhu cầu Maslow bao gồm: “nhu cầu sinh học”, “nhu cầu được an toàn”, “nhu cầu về xã hội”, “nhu cầu được tôn trọng” và “nhu cầu thể hiện bản thân”.
Theo thuyết này, nhu cầu con người phân theo những cấp bậc khác nhau từ thấp đến cao. Khi nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn, nhu cầu bậc cao hơn sẽ phát sinh. Các nhu cầu bậc thấp là các nhu cầu cơ bản để con người có thể tồn tại, ví dụ: ăn uống, nơi ở, tình dục,… (nhu cầu sinh học) và được bảo vệ tính mạng (nhu cầu được an toàn). Sau đó mới phát sinh đến nhu cầu về xã hội (được giao tiếp, được yêu thương, …), nhu cầu được tôn trọng (được mọi người xung quanh hoặc trong tổ chức, xã hội kính trọng) và cuối cùng là nhu cầu thể hiện bản thân (được làm những điều mình thích, được đóng góp mang lại giá trị cho xã hội, cho cuộc đời).
1 Tháp nhu cầu Maslow (1943) (Nguồn: Maslow, 1943) Bậc 1: Nhu cầu sinh học Nhu cầu sinh học hay còn gọi là nhu cầu sinh lý cơ bản nhất mà ai cũng cần. Đây là điều thiết yếu để con người có thể sống, gồm ăn uống, nghỉ ngơi, sinh lý…bắt buộc phải có ở một con người. Nhu cầu này thỏa mãn thì con người mới có thể sống và cần đến các nhu cầu khác. Về quản trị, nhu cầu này có ý nghĩa rằng công ty phải đảm bảo cho nhân viên có đủ tiền lương để trang trải cuộc sống thường ngày.
Bậc 2: Nhu cầu được an toàn Nhu cầu được an toàn thuộc nhóm cơ bản nhưng xuất hiện sau nhu cầu sinh học. Khi đó, con người phải được an toàn về tính mạng, tài sản và dường như là sự bắt buộc trong xã hội. Có thể thấy nhu cầu được an toàn luôn hiện diện trong các quy định pháp luật về dân sự, hình sự, kinh tế, … Trong quản trị nhân sự, nhu cầu này mong muốn doanh nghiệp phải đảm bảo cho nhân viên sự an toàn về thể xác, tinh thần, được bảo vệ theo đúng pháp luật,. 8 Bậc 3: Nhu cầu xã hội Nhu cầu xã hội chú trọng vào khía cạnh tinh thần.
Con người từ xa xưa đã chung sống theo bầy đàn, do đó, đây có thể xem là tập tính còn sót lại. Theo nhu cầu này, con người mong muốn được kết nối với mọi người trong xã hội thông qua các mối quan hệ. Điển hình như chúng ta không thể làm việc nếu không giao tiếp và tương tác với người khác, hoặc nếu chúng ta bị xa cách bởi cộng đồng thì chúng ta sẽ trở nên cô đơn và trầm cảm. Trong tổ chức, các nhà quản trị cần đảm bảo cá nhân có thể hòa nhập và kết nối được với với mọi người tại nơi làm việc.
Bậc 4: Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu này nghĩa là cá nhân mong muốn được mọi người xung quanh tôn trọng và đồng thời họ cũng tự tôn trọng mình, nhu cầu này phát sinh sau khi 3 nhu cầu bậc 1. Các nhà quản trị cần tôn trọng và tạo cho nhân viên cảm giác được tôn trọng. Tạo cơ hội để nhân viên được tự hào về bản thân và được tôn trọng bởi mọi người xung quanh như tổ chức khen thưởng, tuyên dương về thành tích. Bậc 5: Nhu cầu thể hiện bản thân Đây là cấp độ cao nhất trong tháp nhu cầu Maslow.
Cá nhân mong muốn khẳng định mình, khát khao sống và làm việc theo sở thích, đam mê vì mục tiêu cống hiến cho cộng đồng. Nhu cầu này thường xuất hiện ở những người thành đạt bởi vì khi đó họ đã được thỏa mãn đầy đủ 4 nhu cầu trước đó trong tháp. Có những người cả đời vẫn không thể thỏa mãn được nhu cầu này vì họ không tìm thấy được đam mê và lý tưởng sống. Các nhà quản trị cần tạo cơ hội để nhân viên làm việc đúng với lý tưởng và đam mê của họ vì khi đó họ sẽ nỗ lực cống hiến và mang lại hiệu quả nhiều so với công việc mà họ không phù hợp.
Cân nhắc trao cơ hội và vị trí cao cho nhân viên có năng lực. Các nhà quản trị cần thấu hiểu nhân viên cần gì để có thể thỏa mãn họ. Nếu một người có kinh tế chưa ổn định, nhu cầu họ cần là tiền lương cao để sống và tích lũy. Tuy nhiên, với một người có kinh tế đã ổn định, nhu cầu họ cần là sự tôn trọng, được sống với đam mê thì dù có tăng lương cao cũng không thỏa mãn được họ.
Đó là lí do vì sao rất nhiều bạn trẻ quyết định bỏ công việc ổn định, lương cao để về khởi nghiệp theo ý tưởng và đam mê của bản thân.2 Lý thuyết ERG của Alderfer (1969) Dựa trên Thuyết nhu cầu của Maslow, nhà tâm lí học Alderfer đã đưa ra lý thuyết ERG. Theo thuyết này, con người mong muốn được thỏa mãn đồng thời nhiều nhu cầu chứ không phải lần lượt theo cấp bậc như Maslow đề xuất. Theo ERG, con người có 03 nhu cầu cơ bản. Khi được đáp ứng một nhu cầu, con người sẽ có động lực tiếp tục thỏa mãn các nhu cầu khác.
Trong đó: Tồn tại (Existence) - nhu cầu vật chất cơ bản để sinh tồn, ví dụ như nhu cầu an toàn và sức khỏe. Quan hệ (Relatedness) - sự cần thiết phải kết nối với người khác, địa vị xã hội và được công nhận. Phát triển (Growth) - nhu cầu phát triển cá nhân, yêu cầu công việc sáng tạo và có ý nghĩa. So sánh giữa Thuyết ERG của Alderfer với Thuyết nhu cầu của Maslow: Sự khác biệt là Maslow tin rằng các nhu cầu chỉ có thể được thỏa mãn lần lượt: Khi một nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng, ví dụ như con người có nhu cầu muốn thăng chức chỉ khi đã có công việc.
Và nếu một nhu cầu cấp thấp hơn không được thỏa mãn thì nhu cầu cấp cao hơn sẽ không xảy ra, ví dụ khi bị bệnh thì việc thăng chức lúc này dường như không còn quan trọng nữa. Theo thuyết ERG, Alderfer cho rằng con người đều tìm cách thỏa mãn các nhu cầu cùng lúc. Các nhu cầu không cần thiết xuất hiện nghiêm ngặt theo cấp bậc. Đồng thời, thuyết ERG cho rằng khi không thể thoả mãn nhu cầu cao hơn, con người sẽ quay trở về mức nhu cầu thấp hơn.
Ý nghĩa của Thuyết ERG là nhân viên mong muốn thỏa mãn nhiều nhu cầu cùng lúc chứ không phải chỉ thỏa mãn một nhu cầu họ thiếu thì nhu cầu cao hơn mới xuất hiện. Nhà quản lý quan tâm và tiếp xúc tốt với nhân viên và ngoài thu nhập, nhân viên còn có nhiều nhu cầu khác như: Thăng tiến lên vị trí cao hơn Mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp Ghi nhận công sức, thành quả đóng góp Được tham gia vào việc ra quyết định Được tôn trọng 10 Công việc ổn định Môi trường làm việc tốt 2.