Chương 1: Tổng quan tài liệu Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp, nội dung và kết quả nghiên cứu Kết luận và khuyến nghị 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU Nguyên tắc dạy học trực quan được hình thành, phát triển xuyên suốt các giai đoạn lịch sử của nền giáo dục nhân loại. Từ tư tưởng “Cảm giác là nguồn gốc của kiến thức” của nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc Komensky (1592 – 1679) đến sự ra đời và bứt phá của những thành tựu khoa học, công nghệ của nền kinh tế tri thức, CSVC-TTB đã thật sự được nhận diện như là một thành tố không thể thiếu nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của các chương trình giáo dục, các hệ thống đào tạo. Xuất phát từ ý nghĩa đó vấn đề CSVC-TTB, trong hoạt động giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, ngày càng được sự quan tâm của nhiều tổ chức, nhà nghiên cứu giáo dục trên thế giới.
Để cung cấp một cái nhìn tổng thể về hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực này, vấn đề cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục sẽ lần lược được trình bày tóm tắt thông qua một số khảo sát, bài báo, sách, tư liệu có liên quan. Các nghiên cứu của nƣớc ngoài Rất nhiếu các tổ chức giáo dục, nhà khoa học giáo dục trên thế giới đã nhận định tầm ảnh hưởng của môi trường giáo dục, tình trạng CSVC-TTB đến kết quả của quá trình giáo dục. Trong quá trình tham khảo các tài liệu, có thể nhận thấy các nghiên cứu trong lĩnh vực này chủ yếu được tiếp cận theo 02 hướng: Hướng tập trung vào việc nghiên cứu thực trạng của vấn đề CSVC-TTB và những ảnh hưởng của CSVC-TTB đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động Dạy – Học trong hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, từ đó tìm kiếm các giải pháp hiệu quả cho quá trình đổi mới, nâng cấp CSVC- TTB của các cơ sở giáo dục. Theo hướng này, Tác giả Ge Hua (1960), Trường Đại học Shenyang, Trung Quốc, đã khẳng định tài sản cố định là nền tảng cho các trường đại học cải tiến chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Việc đẩy mạnh công quản tài sản cố định không chỉ cần thiết cho sự phát triển của nhà trường mà còn là nhu cầu của quá trình hoàn thiện tổ chức giáo dục đại học. Từ cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý tài sản cố định của hệ thống giáo dục đại học 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trung Quốc, tác giả đã nhận diện những tồn tại sau: - Sự thiếu ý thức và những tư tưởng tiên tiến trong công tác quản lý. - Không có sự thống nhất trong hệ thống quản lý. - Chưa có sự phù hợp trong việc phân bố tài chính với nhu cầu thực tế.
- Bộ phận giám sát thiếu kỹ năng và ý thức về luật pháp Trên cơ sở đó, tác giả đã đề nghị các giải pháp: - Thiết lập hệ thống phân cấp quản lý tài sản cố định quốc gia. - Nâng cao nhận thức về công tác quản lý tài sản cố định cho các trường đại học. - Đặt ra mục tiêu cụ thể đối với công tác quản lý tài sản cố định của các trường đại học. - Hoàn thiện công tác kiểm kê tài sản cố định.
- Quản lý tài sản cố định bằng công nghệ thông tin. - Xây dựng những nhóm quản lý cơ hữu để tăng cường cho công tác giám sát. [32] Liên quan đến vấn đề thiết lập một môi trường giáo dục hiệu quả trong việc xây dựng các công trình trường học và lắp đặt hệ thống trang thiết bị, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Châu Âu (OCDE), trên cơ sở khảo sát thực trạng CSVC-TTB của nhiều cơ sở giáo dục thuộc khu vực, đã tổ chức định kỳ các hội nghị cho các quốc gia thành viên nhằm tìm kiếm những giải pháp hướng đến triển khai thực hiện 03 nhiệm vụ chính: - Cải thiện chất lượng và quá trình vận hành của các công trình trường học; - Đảm bảo sự gắn kết giữa việc sử dụng các công trình trường học với các yếu tố: kế hoạch tài chính, xây dựng, vận hành và công tác bảo trì, bảo dưỡng; - Thể hiện sự hài hòa giữa môi trường giáo dục và môi trường xã hội. [50] Nghiên cứu của tác giả John B.
Lyons (2001), làm việc trong lĩnh vực giáo dục, quản lý ngân hàng hối đoái về cơ sở vật chất giáo dục Hoa Kỳ, đã khẳng định vai trò quan trọng của môi trường, phương tiện giáo dục đối với chất 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lượng giáo dục. Trên cơ sở báo cáo (1999) của Phòng Giáo dục trực thuộc Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia Hoa Kỳ, có rất nhiều cơ sở giáo dục quá cũ kỹ, không đáp ứng được nhu cầu về điều kiện vật chất ngày càng tăng của người học. Từ đó tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục kịp thời các hạn chế về CSVC, nhiệt độ, sự thông thoáng, âm thanh, ánh sáng và sự hòa hợp với môi trường, xã hội của các công trình trường học. [34] Quan tâm đến vấn đề sức khỏe và sự an toàn của người học trong môi trường giáo dục, trong nghiên cứu thuộc chương trình “Heatlhy and Safe School Environment, Part 2, Physical School Environment: result from The School Health Policies and Programs Study 2006 (SHPPS)”, Nhóm Tác giả Hoa Kỳ gồm Sherry Everett Jones, PhD, MPH, JD, Robert Axelrad, Wendy A.Stat đã thực hiện khảo sát bằng Email trên 424 học sinh, sinh viên, và bằng phỏng vấn trực tiếp qua điện thoại 992 học sinh, sinh viên của 50 tiểu bang của Colombia.
Kết quả khảo sát cho thấy nhằm thực hiện chương trình giảm thiểu độc hại của các loại chất thải, bảo vệ môi trường tại các cơ sở giáo dục, có 1/3 quận và 51,4% các cơ sở giáo dục trên toàn lãnh thổ có chương trình cải tiến môi trường bên trong của trường học; 24,5% tiểu bang yêu cầu các cơ sở giáo dục có các biện pháp bảo vệ môi trường Dạy – Học, 13,4% quận có chính sách “Xanh hóa” các công trình trường học. [40] Hướng tập trung vào việc nghiên cứu chất lượng giáo dục đại học theo quan điểm khách hàng sử dụng dịch vụ giáo dục đại học. Sử dụng thang đo SERVQUAL, Chua (2004) đã nghiên cứu đánh giá chất lượng đào tạo đại học theo nhiều quan điểm khác nhau: sinh viên, phụ huynh, giảng viên và người sử dụng lao động. Kết quả cho thấy trong hầu hết các thành phần của SERVQUAL, sinh viên, phụ huynh và người sử dụng lao động đều kỳ vọng cao hơn những gì họ nhận được.
Riêng các giảng viên, sự khác biệt giữa cảm nhận và kỳ vọng xuất hiện ở hai thành phần Phương tiện 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hữu hình và Năng lực phục vụ. Tuy nhiên, Chua sử dụng cỡ mẫu không lớn lắm, cỡ mẫu của Sinh viên: 35; Phụ huynh: 27; Giảng viên: 10; Người sử dụng lao động: 12.Thomson (1999) tìm hiểu các nhân tố tác động đến chất lượng cảm nhận trong đào tạo đại học của sinh viên qua điều tra ý kiến sinh viên 06 trường đại học có qui mô vừa và nhỏ trong 3 bang của Hoa Kỳ. Giảng viên các trường cũng được mời tham gia. Về thang đo, các nhà nghiên cứu đã hiệu chỉnh SERVQUAL thành hai bộ phận: kỳ vọng và cảm nhận thành một thang duy nhất bằng cách đưa các câu hỏi về chất lượng có được thấp hơn hay cao hơn mong đợi.
Thang đo này đã được một số nhà nghiên cứu trước đó sử dụng. Các biến kiểm soát chủ yếu trong nghiên cứu là các biến nhân khẩu học: kinh nghiệm học tập, kết quả học tập và cảm nhận của sinh viên về sự đánh giá công bẳng của nhà trường; khối lượng công việc; kinh nghiệm của giảng viên. Kết quả phân tích dữ liệu hồi đáp cho thấy từ 5 thành phần lý thuyết của SERVQUAL chỉ còn 3 thành phần đủ tin cậy và có giá trị phân biệt: (1) Cảm thông; (2) Năng lực đáp ứng và Tin cậy; (3) Phương tiện hữu hình (môi trường học tập, làm việc). Sự cảm thông và quan tâm của giảng viên đến sinh viên là yếu tố quan trọng nhất cho đánh giá chất lượng.
Ngoài ra, các biến kiểm soát sau là có ý nghĩa trong tác động đến chất lượng dịch vụ cảm nhận của sinh viên: (1) Giới tính; (2) năm học tập của sinh viên tại nhà trường; (3) mức công bằng trong đánh giá của giảng viên.[41] Liên quan đến việc nắm bắt những mong muốn của sinh viên về các vấn đề của cuộc sống học đường: phương tiện thông tin, dịch vụ sinh viên, điều kiện CSVC-TTB, chương trình đào tạo, kiểm tra và đánh giá sinh viên, khảo sát “Sinh viên đánh giá điều kiện học tập”, hàng năm của Trường Đại học Paris Descartes, France (11/2007) trên 3880 SV thuộc các ngành đào tạo của Nhà trường, cho thấy sinh viên rất hài lòng với các hoạt động của trường. Trong đó, đối với lĩnh vực CSVC-TTB sự hài lòng của SV tương đối cao, cụ thể kết 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quả được trình bày trong bảng sau. [52] STT Nội dung đánh giá Tỷ lệ 1 Thư viện 79% 2 Trang thiết bị phòng Tin học 76% 3 Phòng học, giảng đường và phòng làm việc 70% 4 Phương tiện thông tin 62% 5 Phương tiện hỗ trợ học tập 60% 6 Nguồi tài liệu online 59% 7 Vệ sinh cảnh quan, môi trường 50% 8 Phương tiện, địa điểm giải trí 31% 1. Các nghiên cứu trong nƣớc Cũng như các nhà nghiên cứu trên thế giới, tại Việt Nam trong những năm qua các nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này cũng đã được sự quan tâm của các Nhà giáo dục trong cả nước.
Theo hướng nghiên cứu thực trạng CSVC-TTB và đề ra các giải pháp, TS. Trần Doãn Quới, Viện Khoa học Giáo dục và nhóm cộng sự (1990) đã thực hiện khảo sát tình hình CSVC-TTB của một số trường và cụm trường đại học, dạy nghề tại những địa bàn trọng điểm, nhóm tác giả đã có đánh giá chung: tình trạng CSVC-TTB còn cũ kỹ, lạc hậu, thiếu thốn nghiêm trọng không thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người học, cũng như công cuộc phát triển quy mô và chất lượng đào tạo. Một vấn đề khá bức thiết cũng được đề cập trong nghiên cứu đó là hiệu quả sử dụng CSVC-TTB tại các cơ sở giáo dục còn thấp do công tác quản lý còn nhiều hạn chế.