Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về học trực tuyến và các yếu tố ảnh hưởng đến học trực tuyến Việc áp dụng nền tảng học trực tuyến đã được nghiên cứu trên phạm vi quốc tế và ở các nước đang phát triển cũng như ở các nước phát triển.
Những thách thức trong triển khai, cũng như các yếu tố cản trở sự thành công của học trực tuyến đã được các nhà nghiên cứu xem xét ở mọi góc độ khác nhau. Giáo dục từ xa ngày càng trở nên phổ biến trong giáo dục hiện đại và được người học ở mọi lứa tuổi chấp nhận. Để cung cấp giáo dục trực tuyến có chất lượng và hiệu quả, các cơ sở giáo dục cần nhận thức được nhu cầu và mong đợi của người học, trên cơ sở đó tìm kiếm các chiến lược và giải pháp hiệu quả để hướng tới giáo dục từ xa. Để trả lời cho câu hỏi: “Thái độ của người học đối với học trực tuyến và giáo dục từ xa là như thế nào?”, vai trò quan trọng trong việc phát triển và triển khai hiệu quả nghiệp vụ sư phạm các phương pháp giảng dạy trực tuyến.
Trong nghiên cứu của Peytcheva-Forsyth và cộng sự (2018), đã thực hiện nghiên cứu về thái độ và quan điểm của 590 sinh viên đối với hình thức học trực tuyến và giáo dục từ xa tại trường Đại học Tổng hợp Sofia. Mục đích của nghiên cứu là xác định ảnh hưởng và sự phụ thuộc của các yêu tố khác nhau đến thái độ của sinh viên đối với việc học trực tuyến và giáo dục từ xa. Mối tương quan giữa thái độ và nhân khẩu học của sinh viên, trải nghiệm sử dụng công nghệ trong cuộc sống hằng ngày và trải nghiệm sử dụng công nghệ trong bối cảnh giáo dục, được phân tích và rút ra một số kết luận như sau: - Sinh viên có thái độ tích cực rõ ràng đối với việc học từ xa. - Phần lớn sinh viên không chỉ sử dụng CNTT trong cuộc sống hằng ngày mà còn muốn sử dụng CNTT một cách tích cực trong giáo dục.
- Các yếu tố nhân khẩu học (giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp) có tác động đến thái độ của sinh viên đối với học trực tuyến và đào tạo từ xa. - Kỹ năng và kinh nghiệm của sinh viên khi làm việc với công nghệ và ứng dụng web trong bối cảnh giáo dục là một yếu tố dự báo quan trọng về thái độ của sinh viên đối với việc học trực tuyến. 6 Kết quả nghiên cứu nhìn chung thể hiện rõ sự sẵn sàng và thái độ tích cực của sinh viên đối với giáo dục trực tuyến và giáo dục từ xa (Peytcheva-Forsyth, Yovkova, & Aleksieva, 2018). Uppal và cộng sự (2018) đã nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến chất lượng dịch vụ học trực tuyến của 490 sinh viên các ngành khác nhau tại trường Đại học GC, Lahore và Đại học Kỹ thuật và Công nghệ, Lahore.
Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu nhận thức của sinh viên về chất lượng học tập trực tuyến, kết quả khẳng định rằng các nhân tố có mối tương quan tích cực với nhận thức của sinh viên về chất lượng học tập trực tuyến, bao gồm: sự đảm bảo; tính phản hồi; tính hữu hình; trang web khoá học; nội dung học tập. Theo đó, có sự giảm kỳ vọng về sự tương tác và/hoặc phụ thuộc vào người khác trong học tập trực tuyến của sinh viên, vì sự đồng cảm và độ tin cậy không ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức của trải nghiệm học trực tuyến. Trong khi đó, sinh viên dường như đánh giá cao một môi trường học trực tuyến ổn định và dễ sử dụng (Uppal, Ali, & Gulliver, 2018). Giáo dục là một con đường để đạt được đến kiến thức và kỹ năng, từ đó sẽ tác động đến tăng trưởng kinh tế.
Do đó, Azhar và cộng sự (2021) cho rằng, khi các nền tảng học trực tuyến có sẵn rất nhiều ở Malaysia, người nghèo ở thung lũng Klang có phương tiện nâng cao kiến thức và kỹ năng để tạo thêm thu nhập. Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã tiến hành xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận học trực tuyến của người nghèo ở thành thị ở Maylaysia. Mô hình nghiên cứu được phát triển bằng cách tích hợp các cấu trúc của lý thuyết thống nhất về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ (Unifield Theory of Acceptance and Use of Technology - UTAUT), để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận của việc học trực tuyến của người nghèo ở thành thị. Để đánh giá độ tin cậy của các yếu tố này, 293 người được hỏi đã tham gia vào cuộc khảo sát trực tuyến.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng, có ba yếu tố trong mô hình ảnh hưởng đáng kể đến sự chấp nhận và ý định của người nghèo ở thung lũng Klang đối với việc học trực tuyến đó là: 1- giá trị cảm nhận; 2- điều kiện thuận lợi; 3- kỳ vọng về hiệu suất. Trong khi đó các yếu tố không tác động trực tiếp đến ý định, hành vi sử dụng và chấp nhận học trực tuyến là: Kỳ vọng sự nỗ lực và ảnh hưởng xã hội. Nhóm nghiên cứu cho rằng, việc học 7 trực tuyến sẽ mang lại những lợi ích trong giáo dục, xứng đáng với thời gian và công sức đầu tư. Người được tham gia phỏng vấn cũng tin rằng việc chấp nhận và sử dụng các nền tảng này sẽ dẫn đến những tiến bộ tốt hơn trong học tập hoặc sự nghiệp.
Tuy nhiên, nghiên cứu này sử dụng một phương pháp cắt ngang nên không thể đánh giá đầy đủ việc áp dụng học tập trực tuyến trong các cộng đồng nghèo ở thung lũng Klang (Azhar và cộng sự, 2021). Trước đại dịch Covid-19, hầu hết các trường đại học ở Việt Nam đều dựa trên hình thức học trực tiếp. Khi đại dịch xảy ra, các cơ sở giáo dục tại Việt Nam đã phải chuyển phương thức giảng dạy từ trực tiếp sang phương thức giảng dạy trực tuyến. Maheshwari (2021), đã nghiên cứu tìm hiểu về những yếu tố nào tác động đến ý định học trực tuyến của sinh viên.
Nghiên cứu được thực hiện với 145 người tham gia là sinh viên đại học và sau đại học tại các trường đại học công lập và tư thục đã học trực tuyến trong thời kỳ đại dịch ở Việt Nam. Bằng phương pháp định lượng, thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, đồng thời mô hình lý thuyết được kiểm định bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (Structural Equation Modeling). Kết quả cho thấy sự hỗ trợ của cơ sở giáo dục và cảm nhận về sự thích thú ảnh hưởng đến ý định học khoá học trực tuyến của sinh viên trong tương lai. Nhận thức về sự thích thú ảnh hưởng đến ý định học trực tuyến và bị ảnh hưởng bởi cơ sở hạ tầng CNTT-TT, tốc độ và khả năng truy cập internet (Maheshwari, 2021).
Phạm Ngọc Thạch (2018) trong nghiên cứu về tương tác giữa người học và nội dung trong chương trình đào tạo tiếng Anh trực tuyến - Hello, đã phân tích dữ liệu trích xuất từ hệ thống học tiếng Anh trực tuyến của một trường đại học Hà Nội. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định lượng để tìm hiểu và so sánh mức độ tương tác giữa sinh viên hai Khoa tiếng Anh với nội dung cùng chương trình học trực tuyến. Kết quả phân tích cho thấy không có sự khác nhau về điểm làm bài kiểm tra đầu trình độ, kiểm tra kết thúc bài học và điểm trung bình các bài luyện giữa sinh viên của hai Khoa. Đồng thời cũng cho thấy mối tương quan giữa điểm trung bình các bài luyện thành phần và điểm kiểm tra đầu trình độ/kết thúc bài học (Phạm Ngọc Thạch, 2018).
Lương Đình Hải và cộng sự (2020) trong nghiên cứu về nhận thức và thái độ 8 của sinh viên đối với học tập thông qua các công cụ hội nghị trực tuyến trong bối cảnh đại dịch Covid-19, đã tiến hành sử dụng bộ dữ liệu chứa 267 biểu ghi được trích xuất từ bộ “Khảo sát về việc sử dụng các công cụ họp video trực tuyến trong học tập của sinh viên trong bối cảnh giãn cách xã hội do đại dịch Covid-19” được gửi đến sinh viên có tham gia học trực tuyến ở thời điểm này thông qua các giảng viên, cán bộ thuộc 06 trường đại học ở Hà Nội. Nhóm nghiên cứu đã thu được kết quả như sau: - Sinh viên có nhiều lựa chọn thiết bị công nghệ để hỗ trợ cho việc di động và truy cập một cách dễ dàng Internet để tham gia các buổi học trực tuyến. - Thái độ của sinh viên với việc sử dụng các CCHNTT trong bối cảnh giãn cách xã hội về cơ bản là không thấy tích cực hoặc tiêu cự. - Thái độ và nhận thức của sinh viên trong học trực tuyến thông qua việc sử dụng các CCHNTT không có mối tương quan chặt chẽ với nhau.
Những kết quả cho thấy, nghiên cứu góp phần củng cố thêm những hiểu biết về nhận thức và thái độ của sinh viên đối với việc sử dụng các CCHNTT trong việc học tập trực tuyến (Lương Đình Hải và cộng sự 2020). Thông qua ứng dụng thuyết sử dụng và thoả mãn (Uses and Gratifications Theory - U&G) trong việc dự báo sự hài lòng và ý định tiếp tục học trực tuyến của sinh viên. Trần Kim Dung và Trần Trọng Thuỳ (2020) đã nghiên cứu mô hình phân tích hệ thống tác động của các thành phần về động lực của sinh viên khi tham gia học trực tuyến bao gồm: 1- Sự thuận tiện; 2- Giải trí; 3- Chia sẽ kinh nghiệm; 4- Tìm kiếm thông tin; 5- Giao tiếp xã hội. Mẫu nghiên cứu gồm 681 sinh viên đã tham gia học trực tuyến tại trường Đại học Kinh tế TP.
HCM và trường Đại học Ngoại thương Cơ sở II - TP. Bằng phương pháp định lượng, thông qua hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, đồng thời mô hình giả thuyết được kiểm định bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM và phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm trong CFA. Kết quả thực nghiệm đã chứng minh vai trò của 05 thành phần của động lực. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò trung gian của sự hài lòng trong mối quan hệ giữa động lực và đồng ý tiếp tục học trực tuyến (Trần Kim Dung & Trần Trọng Thuỳ, 2020).
9 Lê Hữu Nghĩa và cộng sự (2021) trong nghiên cứu “chất lượng phần mềm và hiệu quả dạy và học trực tuyến mùa dịch Covid-19”, đã tiến hành khảo sát trên 43 giảng viên và 1073 sinh viên tại Khoa Y học Cổ truyền của trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.