CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Mọi doanh nghiệp đều xây dựng và tạo ra những giá trị riêng cho mình và đồng hành cùng những giá trị đó là văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa của một doanh nghiệp thường được tạo ra một cách vô thức, dựa trên những tiêu chuẩn của những người điều hành đứng đầu hay những người đứng đầu tổ chức doanh nghiệp. Bản chất của văn hóa doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến hành vi và thái độ của nhân viên trong tổ doanh nghiệp đó.
Nó cũng ảnh hưởng đến kết quả đầu ra của nhân viên về khả năng sáng tạo và đổi mới. Hiện nay các Văn hóa danh nghiệp khá mới mẻ so với thị trường các doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam song lại là đề tài được xem là rất đa dạng và phong phú. Ở mỗi góc độ nghiên cứu và cũng tùy vào mục đích, nhu cầu, … thì các nhà nghiên cứu sẽ đưa ra những khái niệm khác nhau về VHDN: Theo TS Đỗ Minh Cường – Trường Đại học Thương mại Hà Nội: “Văn hóa doanh nghiệp (văn hóa công ty) là một dạng của văn hóa tổ chức bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hóa mà doanh nghiệp tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên nó”. Theo Tổ chức Lao động Quốc Tế (ILO): “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái đôh ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết” “Văn hóa thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trongdoanh nghiệp và có xu hướng tự lưu truyền, thường trong thời gian dài”.
&Heskett, JL, 1992) Văn hóa doanh nghiệp là những biểu tượng, ngôn ngữ, hệ tư tưởng, lễ nghi, và huyền thoại (Pettetgrew,1979). 10 Văn hóa doanh nghiệp là một sản phẩm nào đó, là lịch sử, là những thứ dựa trên biểu tượng, là những đúc hết trừu tượng từ hành vi và những sản phẩm của hành vi (Kroeber & Kluckhohn, 1953). Schenin (2004) định nghĩa như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là một khuôn mẫu những quan niệm cơ bản – được phát minh, được khám phá hoặc được phát triển bởi một nhóm người nhất định nào đó khi học được các đối phó với những vấn đề thích nghi với bên ngoài và hội nhập bên trong – vận hành đủ tốt để được coi như là có hiệu lực và do đó được sử dụng để giảng dạy cho nhân viên mới cách nhận thức, cách suy nghĩ, và cách cảm nghĩ một cách đúng đắn khi đối phó với những vấn đề đó”. Heriot từng nói: “Cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi – cái đó là văn hóa”.
Điều đó khẳng định rằng, văn hóa doanh nghiệp là một giá trị tinh thần và hơn thế nữa là một tài sản vô hình của doanh nghiệp. Nó là toàn bộ các giá trị văn hóa được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tạo và phát triển của một DN (hay một tổ chức), trở thành giá trị, các quan niệm và tập quán, thể hiện trong các hoạt động của DN ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi ứng xử của mọi thành viên của DN. Không có thành phần nào đại diện cho văn hóa của riêng họ, nhưng phản ánh chung và đưa ra ý nghĩa cho khái niệm văn hóa doanh nghiệp. Đối với nghiên cứu này, văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống bao gồm các giá trị và niềm tin được doanh nghiệp lựa chọn để xây dựng văn hóa DN của mình; Là công cụ công cụ giúp cho các thành viên trong DN nhận thức các giá trị chuyển thành hành động cụ thể, làm cho các thành viên cảm nhận được sứ mệnh, tự hào về DN mình từ đó tạo nên sự thống nhất cho tất cả mọi thành viên trong doanh nghiệp.
Cấu trúc văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp được cấu thành từ 3 yếu tố, mỗi yếu tố được biểu hiện với những đặc điểm, hình thức khác nhau nhưng đều có một mục đích chung là thể hiện được đặc trưng văn hóa của tổ chức và lan truyền văn hóa ấy tới các thành viên trong tổ chức. Schein (2010) đã đưa ra các yếu tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp có thể được chia thành 3 nhóm yếu tố sau: Hình 1: Cấu trúc văn hóa doanh nghiệp 11 Yếu tố thứ nhất: Những giá trị văn hóa hữu hình Những giá trị văn hóa hữu hình là những cái được thể hiện ra bên ngoài rõ ràng, có thể nhận biết nhất của văn hóai doanh nghiệp. Các thực thể hữu hình mô tả một cách tổng quan nhất môi trường vật chất và các hoạt động xã hội trong một doanh nghiệp. Bao gồm các hình thức cơ bản sau: Thứ nhất: “Kiến trúc đặc trưng và diện mạo doanh nghiệp”.
Được coi là bộ mặt của doanh nghiệp, kiến trúc và diện mạo luôn được các doanh nghiệp quan tâm, xây dựng. Kiến trúc, diện mạo bề ngoài sẽ gây ấn tượng mạnh với khách hàng, đối tác… về sức mạnh, sự thành đạt và tính chuyên nghiệp của bất kỳ doanh nghiệp nào. “Diện mạo thể hiện ở hình khối kiến trúc, quy mô về không gian của doanh nghiệp. Kiến trúc thể hiện ở sự thiết kế các phòng làm việc, bố trí nội thất trong phòng, màu sắc chủ đạo….” Tất cả những sự thể hiện đó đều có thể làm nên đặc trưng cho 14 Doanh nghiệp.
Thực tế cho thấy, cấu trúc và diện mạo có ảnh hưởng đếni tâm lý trong quá trình làm việc của người lao động. Thứ hai: Các lễ kỷ niệm, lễ nghi và các sinh hoạt văn hóa. Đây là những hoạt động đã được dự kiến từ trước và được chuẩn bị kỹ lưỡng. “Lễ nghi theo từ điển tiếng Việt là toàn thể những cách làm thông thường theo phong tục được áp dụng khi tiến hành một buổi lễ.
Theo đó, lễ nghi là những nghi thức đã trở thành thói quen, được mặc 12 định sẽ được thực hiện khi tiến hành một hoạt động nào đó; nó thể hiện trong đời sống hàng ngày chứ không chỉ trong những dịp đặc biệt. Lễ nghi tạo nên đặc trưng về văn hóa, với mỗi nền văn hóa khác nhau thì các lễ nghi cũng có hình thức khác nhau”. Lễ kỷ niệm là hoạt động được tổ chức nhằm ghii nhớ những giá trị của doanh nghiệp và dịp tôn vinh doanh nghiệp, tăng cường niềm tự hào của cán bộ nhân viên về doanh nghiệp. Các sinh hoạt khác như hoạt động ca nhạc, thể thao, các cuộc thii… là hoạt động phổ biến trong đời sống văn hóa.
Các hoạt động này nhằm tạo cơ hội cho các cán bộ nhân viên rèn luyện sức khoẻ, làm phong phú đời sống tinh thần, tăng cường sự hiểu biết giao lưu, và chia sẻ lẫn nhau giữa các thành viên. Thứ ba: Ngôn ngữ, khẩu hiệu. “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trong đời sống hàng ngày, do cách ứng xử, giao tiếp giữa các thành viên trong doanh nghiệp quyết định”. Những người sống và làm việc trong cùng một môi trường doanh nghiệp có xu hướng dùng chung một thứ ngôn ngữ.
Các thành viên trong tổ chức để làm việc được với nhau cần có sự hiểu biết lẫn nhau thông qua việc sử dụng chung một ngôn ngữ, tiếng “lóng” đặc trưng của doanh nghiệp. Những từ như “dịch vụ hoàn hảo”, “khách hàng là thượng đế” … được hiểu theo các cách khác nhau tùy theo văn hóa của từng doanh nghiệp. “Khẩu hiệu là một câu nói ngắn gọn, sử dụng những từ ngữ đơn giản, dễ nhớ thể hiện một cách cô đọng nhất triết lý kinh doanh của một công ty”. Thứ tư: “Biểu tượng, bài hát truyền thống, đồng phục”.
“Biểu tượng là biểu thị một cái gì đó không phải là chính nó và có tác dụng giúp mọi người nhận ra hay hiểu được cái mà nó biểu thị. Các công trình kiến trúc, lễ nghi, giai thoại, khẩu hiệu đều chứa đựng những đặc trưng của biểu tượng. Một biểu tượng khác là logo. Logo là một tác phẩm sáng tạo thể hiện hình tượng về một tổ chức bằng ngôn ngữ nghệ thuật.
Logo là loại biểu trưng đơn giản nhưng có ý nghĩa lớn nên được các Doanh nghiệp rất quan tâm chú trọng. Logo được in trên các biểu tượng khác của doanh nghiệp như bảng nội quy, bảng tên công ty, đồng phục, các ấn phẩm, bao bì sản phẩm, các tài liệu được lưuhành, ….” Bài hát truyền thống, đồng phục là những giá trị văn hóa trong các dịp đặc biệt, tạo ra nét đặc trưng cho doanh nghiệp và tạo ra sự đồng cảm i giữa các thành viên. Đây cũng là những biểu tượng tạo nên niềm tự hào của nhân viên về doanh nghiệp của mình. Ngoài 13 ra, các giai thoại, truyện kể i truyền miệng, các ấn phẩm điển hình … là những biểu tượng giúp mọi ngườii thấy rõ hơn về những giá trị văn hóa của tổ chức.
Yếu tố thứ 2: Những giá trị được công bố Yếu tố này đề cập đến mức độ chấp nhận, tán đồng hay chia sẻ các giá trị bao gồm các chiến lược, mục tiêu, các nội quy, quy định, tầm nhìni, sứ mệnh. Các giá trị này được công bố công khai để mọi thành viên của công ty nỗ lực thực hiện. Đây là kim chi nam cho mọi hoạt động của cán bộ nhân viên. Thứ nhất: Tầm nhìn.
“Tầm nhìn là trạng thái trong tương lai mà doanh nghiệp mongi muốn đạt tới. Tầm nhìn cho thấy mục đích, phương hướng chung để dẫn tới hành động thống nhất. Tầm nhìn cho thấy bức tranh toàn cảnh về doanh nghiệp trong tương lai với giới hạn về thời gian tương đối dài và có tác dụng hướng mọi thành viên trong doanh nghiệp chung sức nỗ lực đạt được trạng thái đó”. Thứ hai: Sứ mệnh và các giá trị cơ bản.
“Sứ mệnh nêu lên lý do vì sao tổ chức tồn tại, mục đích của tổ chức là gì? Tại sao làm vậy? Làm như thế nào? Để phục vụ ai? Sứ mệnh và các giá trị cơ bản nêu lên vai trò, trách nhiệm mà tự thân doanh nghiệp đặt ra. Sứ mệnh và các giá trị cơ bản cũng giúp cho việc xác định con đường, cách thức và các giai đoạn để đi tới tầm nhìn mà doanh nghiệp đã xác định”. Thứ ba: Mục tiêu chiến lược. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn chịu các ảnh hưởng của các nhân tố khách quan và chủ quan.
Những tác động này có thể mang lại các điều kiện thuận lợi hay thách thức cho doanh nghiệp.