Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và các hàm ý quản trị. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm cơ bản 2.1 Khái quát về chuỗi cung ứng Theo M.Porter (1990), Chuỗi cung ứng là một quá trình chuyển đổi từ nguyên vật liệu thô cho tới sản phẩm hoàn chỉnh thông qua quá trình chế biến và phân phối tới tay khách hàng cuối cùng. Còn theo Lee và Billington (1992), Chuỗi cung ứng là hệ thống các công cụ để chuyển hoá nguyên liệu thô từ bán thành phẩm tới thành phẩm, chuyển tới người tiêu dùng thông qua hệ thống phân phối” (The evolution of Supply Chain Management Model and Practice) Ganeshan và Harrison (1995), thì cho rằng chuỗi cung ứng là một chuỗi hay một tiến trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi sản phẩm làm ra hay dịch vụ tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn về phân phối và các phương tiện để thực hiện thu mua nguyên liệu, biến đổi các nguyên liệu này qua khâu trung gian để sản xuất ra sản phẩm, phân phối sản phẩm này tới tay người tiêu dùng.
Theo Chopra và Peter (2009), chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ có nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn bao gồm cả nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng. Theo Dawei Lu (2011) cho rằng chuỗi cung ứng được định nghĩa như là một tổ hợp các sự kết nối với nhau của các công ty hoặc các bộ phận trong công ty nhằm tạo thêm giá trị từ việc chuyển đổi nguồn lực đầu vào cho đến sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng. 7 Vậy chuỗi cung ứng bao gồm các hoạt động từ nhà cung cấp ban đầu, sản xuất ra sản phẩm và chuyển sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng với mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng.2 Khái niệm, mục tiêu và vai trò của quản trị chuỗi cung ứng 2.1 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng Theo tác giả Michael Quayle (2006), cho rằng quản trị chuỗi cung ứng là việc quản trị tất cả các hoạt động nhằm làm thỏa mãn khách hàng cuối cùng.
Nó bao trùm hầu hết các hoạt động kinh doanh gồm có: hoạt động tiếp thị, sản xuất, mua hàng, hậu cần, và các hoạt động tổng quát hơn như tài chính và con người. Quản trị chuỗi cung ứng được cho là cách tiếp cận toàn diện, và cách tiếp cận toàn diện là những gì chúng ta cần thực hiện để tạo ra một nền văn hóa đẳng cấp thế giới. Quản trị chuỗi cung ứng đơn giản và cuối cùng là quản lý kinh doanh, những gì có thể có trong bối cảnh cụ thể của nó, được nhận thức và ban hành từ quan điểm chuỗi cung ứng có liên quan (Dawei Lu, 2011).2 Mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng Theo tác giả Dawei Lu (2011), cho rằng mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng là tối đa hóa toàn bộ lợi nhuận của chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng có ảnh hưởng mạnh tới sự thành công hoặc thất bại của doanh nghiệp vì chúng có tác động đáng kể đến doanh thu và chi phí phát sinh.
Mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng là cung ứng sản phẩm với chất lượng cao nhất tới tay khách hàng trong khi vẫn giữ được chi phí thấp. Mục tiêu chính của quản trị chuỗi cung ứng là tối đa hóa giá trị tổng thể; Giá trị ở đây là sự chênh lệch giữa giá của sản phẩm cuối cùng theo đánh giá của khách hàng và chi phí trong hoạt động chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng (Phương, 2019). Và quản trị chuỗi cung ứng tập trung vào việc tích hợp một cách hiệu quả nhà cung cấp, người sản xuất, nhà kho, cửa hàng (Nhung, 2012).3 Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng Theo Michael Quayle (2006), cấu trúc của chuỗi cung ứng đòi hỏi phải có sự chuyển đổi nhanh. Người tiêu dùng luôn đòi hỏi giá thấp và chất lượng dịch vụ cao, điều này buộc các nhà bán lẻ, nhà sản xuất, nhà phân phối phải đạt được việc sử dụng chi phí hiệu quả cao nhất và cải thiện thời gian giao hàng, là nhân tố chính để tạo lợi thế cạnh tranh.
Quản trị chuỗi cung ứng có thể tiết kiệm tiền. Có thể cải thiện lợi nhuận của doanh nghiệp, tăng thị phần, cải thiện dòng tiền, mở ra thị trường mới, giới thiệu sản phẩm mới và làm hài lòng cổ đông cũng như ban lãnh đạo doanh nghiệp (Michael Quayle, 2006). Cũng theo tác giả Michael Quayle (2006), trong tác phẩm Purchasing and Supply Chain Management: Strategies and Realities, đã đưa ra bốn vai trò chính của quản trị cung ứng như sau: Làm thế nào để giảm chi phí và tăng thêm giá trị của sản phẩm, dịch vụ Làm thế nào để duy trì tiêu chuẩn chất lượng ở mức cao nhất Làm thế nào để cải thiện dịch vụ khách hàng Và làm thế nào để thích nghi với áp lực môi trường ngày càng tăng 2.3 Khái niệm rủi ro chuỗi cung ứng Khái niệm rủi ro được Allan Willett (1901) định nghĩa rủi ro là các sự kiện không chắc chắn xảy ra trong tương lai, các sự kiện này thường không dự đoán trước được, tiềm ẩn cũng như sự không ổn định, sự bất thường hoặc ngoài tầm kiểm soát, gây ra đứt quãng, gián đoạn dẫn đến tổn thất cho doanh nghiệp. Rủi ro chuỗi cung ứng có thể phát sinh từ mọi khía cạnh bất kể là bên trong hay bên ngoài doanh nghiệp.
Trong những năm của thập niên 80, người ta cho rằng rủi ro chuỗi cung ứng được tạo ra bởi dòng nguyên vật liệu, thông tin và các liên kết trong doanh nghiệp (Kraljic, 1983 và Treleven, 1988). 9 Tuy nhiên trong những năm đầu của thế kỷ 21, cho rằng rủi ro chuỗi cung ứng là sự gián đoạn chuỗi cung ứng, mạng lưới hậu cần (Logistics), vận chuyển và hoạt động sản xuất trong nội bộ doanh nghiệp (Wilson, 2007 và Sheffi, 2005). Theo Tang và Musa (2011), thì định nghĩa rủi ro chuỗi cung ứng nên đề cập đến những sự kiện dù với xác suất nhỏ nhưng có thể xảy đột ngột và các sự kiện này gây ra hậu quả phụ tiêu cực đến hệ thống; Theo đó, việc quản trị rủi ro chuỗi cung ứng là sự phối hợp thông qua việc hợp tác với các đối tác trong chuỗi cung ứng để đảm bảo lợi nhuận và tính liên tục (Tang, 2006). Như vậy, rủi ro chuỗi cung ứng là các sự kiện bất thường xảy ra trong toàn bộ hoạt động của chuỗi cung ứng gây gián đoạn, ảnh hưởng và thiệt hại đến doanh nghiệp.
Khái niệm quản trị rủi ro trong chuỗi cung ứng được hiểu là việc huy động các nguồn lực của doanh nghiệp để giảm thiểu rủi ro, cập nhật thông tin và kiến thức một cách đồng bộ thông qua mạng lưới mối quan hệ (Kiệm, 2013). Theo Prakasha và cộng sự (2018), đăng trên tạp chí Materials Today, kỷ yếu số 5 (2018) định nghĩa đánh giá rủi ro là quá trình phân tích các sự tổn thương (sự không chắc chắn) dẫn đến các mối đe dọa và đề xuất các giải pháp để giảm mức độ rủi ro của một tổ chức. Do đó đánh giá rủi ro là một quá trình bao gồm các chức năng quan trọng nhất của quản trị rủi ro.4 Khái niệm rủi ro cung ứng Theo Zsidisin (2003), định nghĩa rủi ro cung ứng được xác định là xác suất xảy ra sự cố liên quan đến nguồn cung trong nước từ các nhà cung cấp riêng lẻ hoặc thị trường cung ứng xảy ra, dẫn đến kết quả là công ty không thể đáp ứng nhu cầu hoặc gây ra các mối đe dọa đối với cuộc sống và an toàn của khách hàng. Rủi ro cung ứng là rủi ro liên quan đến việc tìm nguồn cung ứng sản phẩm của một công ty đầu vào (Christopher và cộng sự, 2004).
10 Theo Chen (2013) và Chang (1996), thì cho rằng rủi ro cung ứng được thể hiện trực tiếp thông qua các thuộc tính sản phẩm - giá trị cho người mua, chất lượng, giá cả và hiệu suất. Rủi ro cung ứng xuất phát từ các vấn đề liên quan đến chất lượng nguyên vật liệu, sự khan hiếm nguồn liệu và việc từ chối các mối quan hệ với nhà cung cấp (Prakash và cộng sự, 2017). Trục trặc trong mối quan hệ giữa các thành viên về chất lượng nguyên vật liệu, giá cả chi phí đầu vào không thể thỏa mãn được nhu cầu khách hàng, công nghệ lạc hậu, nguồn lực khan hiếm, thiếu hụt hoặc bị ép giá (Zsidsin, 2003). Vậy rủi ro của hoạt động cung ứng là sự cố xảy ra trong quá trình đáp ứng nhu cầu của khách hàng.2 Các học thuyết về rủi ro cung ứng 2.1 Học thuyết về quản trị rủi ro chuỗi cung ứng Dựa trên nghiên cứu của hai tác giả Papapanagiotou và Vlachos (2010), quản trị rủi ro chuỗi cung ứng được sinh ra cùng với khái niệm quản trị chuỗi cung ứng, ban đầu lý do chủ yếu là để đối phó với việc quản lý các nhu cầu không chắc chắn, nguồn cung không đảm bảo và sự không chắc chắn về chi phí (Kouvelis, 2006).
Với nhiều nỗ lực để có thể mô tả một cách cụ thể về quản trị rủi ro chuỗi cung ứng (SCRM). Như vậy, việc xác định rủi ro chuỗi cung ứng thông qua tiếp cận và phối hợp với các thành viên nhằm giảm thiểu những lỗ hổng trong trong toàn chuỗi cung ứng (Juttner, 2005). Nói cách khác, người quyết định liên quan đến rủi ro chuỗi cung ứng cần phải hiểu rõ những rủi ro này và áp dụng những chiến thuật giảm thiểu rủi ro có liên quan trong khi cố gắng đạt được nhiều mục tiêu và lợi nhuận. Theo (Jutter, 2005) để hiểu rủi ro chuỗi cung ứng cần xác định nguồn điều khiển trong toàn bộ quá trình.
Do có nhiều nguồn khác nhau nên không thể xác định rủi ro có thể xuất hiện là từ nguồn nào. 11 Khi mô tả nhiều nguồn gây ra sự gián đoạn trong rủi ro chuỗi cung ứng, đưa ra các loại rủi ro như sau: cung ứng, vận tải, cơ sở vật chất, những quy định trong vận chuyển hàng hóa, nhu cầu (Iakovou, 2007). Những rủi ro trong hoạt động cung ứng có tác động và ảnh hưởng trên toàn mạng lưới chuỗi cung ứng.