chương 1 cũng đã trình bày khái quát về phương pháp nghiên cứu được sử dụng, các đóng góp của đề tài cũng như kết cấu của đề tài. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan về tiền gửi tiết kiệm của KHCN tại NHTM 2. Khái niệm tiền gửi tiết kiệm của KHCN tại NHTM Tiền gửi được định nghĩa là khoản tiền do các đơn vị thặng dư kinh tế như chủ hộ, công ty, nhà đầu tư và chính phủ đưa vào một tổ chức tài chính.
Các khoản tiền này có thể từ tiền mặt, các khoản đòi tiền, như séc được đặt trong tài khoản của người gửi tiền, các khoản vay ngân hàng hoặc tiền từ các khoản đầu tư. Tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập của năm hiện tại, không được sử dụng cho mục đích tiêu dùng. Đây là khoản tiền gửi của bên thứ ba có thể rút ra bất cứ lúc nào và chỉ được rút trong một số điều kiện nhất định, bao gồm các hình thức gửi tiết kiệm tiền mặt, sổ tiết kiệm, chứng minh nhân dân. Định nghĩa tiền gửi là khoản tiền mà khách hàng đặt tại ngân hàng và ngân hàng có nghĩa vụ hoàn trả theo yêu cầu, sau một khoảng thời gian cụ thể hoặc sau khi hết thời hạn thông báo bắt buộc.
Tiền gửi là nguồn tài trợ chính của hầu hết các ngân hàng và do đó, có ảnh hưởng đáng kể đến tính thanh khoản của ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền gửi tại ngân hàng của những người muốn tích lũy một khoản tiền cho những mục tiêu hay những nhu cầu về tài chính được dự tính trong tương lai và đồng thời cũng muốn hưởng thu nhập lãi từ khoản tiền gửi này (Rose Peter, Nguyễn Đức Hiển, Nguyễn Văn Nam, Phạm Long, Vương Trọng Nghĩa và Nguyễn Huy Hoàng, 2000). Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền tạm thời chưa sử dụng hoặc tiền tích lũy của cá nhân được gửi tại ngân hàng nhằm mục đích kiếm lợi tức (Lê Văn Tư, 2005). Trong các loại tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm là loại chiếm tỷ trọng cao trong nguồn vốn huy động của ngân hàng.
Theo Trần Huy Hoàng (2012), tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền gửi của cá nhân vào ngân hàng với mục đích an toàn và sinh lời cho tài sản. Theo Bùi Diệu Anh (2013), tiền gửi tiết kiệm là một loại tiền gửi phi giao dịch, theo đó, cá nhân gửi tiền vào ngân hàng với mục đích an toàn cho tài sản và hưởng một khoản lãi theo thỏa thuận. Việc huy động tiền gửi đối với ngân hàng cũng cần thiết như dưỡng khí cho con người. Theo Audu và cộng sự (2015),các chủ ngân hàng quan tâm hơn đến việc 9 tìm nguồn tiền gửi bằng mọi cách có thể.
Họ cũng quan sát thấy rằng các ngân hàng thường đặt ra một mục tiêu bất khả thi cho các nhân viên trong bộ phận tiếp thị, do đó tiếp thị trở thành chức năng quan trọng nhất trong ngân hàng. Như vậy, tiền gửi tiết kiệm của KHCN tại NHTM được hiểu là khoản tiền gửi của các cá nhân trong nền kinh tế gửi vào ngân hàng với mục đích an toàn và sinh lời cho tài sản theo thỏa thuận với ngân hàng. Đặc điểm tiền gửi tiết kiệm của KHCN tại NHTM Tiền gửi của NHTM cũng là một sản phẩm dịch vụ ngân hàng, nên bản thân sản phầm tiền gửi sẽ mang những đặc điểm sau: ➢ Độ ổn định của khoản tiền gửi tiết kiệm cao hơn so với tiền gửi giao dịch: Tiền gửi tiết kiệm là hình thức huy động vốn chỉ áp dụng riêng cho khách hàng cá nhân. Khoản tiền gửi tiền kiệm của KHCN vào ngân hàng thường là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong một khoản thời gian xác định (Bùi Diệu Anh, 2013).
Biến động của tiền gửi tiết kiệm thấp hơn nhiều so với tiền gửi giao dịch. ➢ Quy mô nguồn tiền gửi tiết kiệm lớn: KHCN thường có nguồn tiền nhàn rỗi khá phong phú, tùy theo tình hình tài chính của mỗi cá nhân. Xét theo quy mô, nguồn tiền gửi tiết kiệm của mỗi cá nhân không nhiều nhưng xét về tổng thể, nguồn tiền gửi tiết kiệm của KHCN là lớn (Nguyễn Minh Kiều, 2013). ➢ Chi phí huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng cao: Khi khách hàng gửi tiền gửi tiết kiệm, mục tiêu của khách hàng là đảm bảo sinh lời cho đồng vốn.
Mối quan hệ giữa ngân hàng và cá nhân gửi tiền là mối quan hệ tín dụng, trong đó, ngân hàng là người đi vay còn khách hàng gửi tiền là người cho vay. Trong quan hệ tín dụng, người đi vay phải hoàn trả gốc và lãi theo thỏa thuận. Đồng thời, nguồn vốn này có tính ổn định cao, thời gian dài hơn so với tiền gửi thanh toán nên lãi suất phải trả cho các khoản tiền gửi tiết kiệm cao hơn (Nguyễn Minh Kiều, 2013). ➢ Hình thức trả lãi trong tiền gửi tiết kiệm là đa dạng: Để đáp ứng nhu cầu gửi tiền với mục đích sinh lời của KHCN, NHTM thường áp dụng đa dạng các hình thức trả lãi trong tiền gửi tiết kiệm bao gồm trả lãi trước, trả lãi định kỳ và trả lãi sau (Nguyễn Văn Tiến, 2013).
Hành vi tiêu dùng của khách hàng cá nhân 10 2. Hành vi tiêu dùng của khách hàng Theo Engel và cộng sự (1993), hành vi tiêu dùng được hiểu là toàn bộ những hoạt động liên quan trực tiếp tới quá trình tìm kiếm, thu nhập, mua sắm, sở hữu, sử dụng, loại bỏ sản phẩm dịch vụ. Nó bao gồm cả những quy trình ra quyết định diễn ra trước, trong và sau các hành động đó. Theo Kotler (2005) cho rằng hành vi tiêu dùng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ.
Hay nói cách khác, hành vi tiêu dùng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng. Theo Lamb, Hair và MCDaniel (2009), hành vi của người tiêu dùng là một quá trình mô tả cách thức mà người tiêu dùng ra quyết định lựa chọn và loại bỏ một loại sản phẩm hay dịch vụ. Theo Schiffiman và cộng sự (2013), hành vi người tiêu dùng là hành vi mà người tiêu dùng biểu lộ sự tìm kiếm, mua sắm, sử dụng, ước lượng, quyết định mua sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ hài lòng với yêu cầu của họ. Như vậy, từ các định nghĩa trên tác giả nhận thấy hành vi của người tiêu dùng là quá trình người tiêu dùng nhận diện nhu cầu, thu thập thông tin, đánh giá các phương án và đưa ra lựa chọn quyết định sử dụng và cuối cùng là đánh giá sau khi sử dụng.
Hành vi của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc về khách hàng và các yếu tố bên ngoài. Các lý thuyết liên quan đến hành vi tiêu dùng của khách hàng Có nhiều lý thuyết liên quan đến hành vi của người tiêu dùng. Trong đó, các lý thuyết phổ biến trong nghiên cứu liên quan đến hành vi, lựa chọn của người tiêu dùng có các lý thuyết phổ biến gồm lý thuyết hành vi hợp lý và lý thuyết hành vi có kế hoạch. - Lý thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA): Lý thuyết hành vi hợp lý được phát triển lần đầu vào năm 1967 bởi Fishbein, sau đó đã được sửa đổi và mở rộng bởi Ajzen và Fishbein (1975).
Theo lý thuyết này, các cá nhân có cơ sở và động lực trong quá trình ra quyết định của họ và đưa ra một sự lựa chọn 11 hợp lý giữa các giải pháp, công cụ tốt nhất để phán đoán hành vi là ý định và hành vi được xác định bởi ý định thực hiện hành vi của một người. Theo Ajzen và Fishbein (1975), ý định hành vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi thái độ đối với hành vi và tiêu chuẩn chủ quan hành vi.1 Mô hình Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) Niềm tin về kết quả hành động Thái độ Đánh giá kết quả hoạt động Ý định Hành vi hành vi Niềm tin vào tiêu chuẩn của người xung quanh Tiêu chuẩn chủ quan Động lực để tuân thủ những người xung quanh Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1975 Trong đó, mức độ tin tưởng của khách hàng về sản phẩm dịch vụ là thái độ của khách hàng, còn chuẩn chủ quan là yếu tố bên ngoài, được tạo nên bởi những người có ảnh hưởng đến niềm tin, nhận thức về sản phẩm, dịch vụ. Nói cách khác, yếu tố chuẩn chủ quan được đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng như bạn bè, người thân. Người tiêu dùng có thể xem xét đến việc những người thân quen liệu có thích họ mua sản phẩm, dịch vụ đó hay không để từ đó ảnh hưởng đến ý định sử dụng sản phẩm, dịch vụ.
- Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behaviour - TPB): Thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991) được phát triển từ lý thuyết hành vi hợp lý (Ajzen và Fishbein, 1975), lý thuyết này được tạo ra do sự hạn chế của lý thuyết trước về việc cho rằng hành vi của con người là hoàn toàn do kiểm soát lý trí. Tương tự như lý thuyết TRA, nhân tố trung tâm trong lý thuyết hành vi có kế hoạch là ý định của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi nhất định. Trong lý thuyết 12 mới này, tác giả cho rằng ý định thực hiện hành vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố như thái độ đối với hành vi, tiêu chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi.2 Mô hình Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) Thái độ đối với hành vi Tiêu chuẩn Ý định Hành chủ quan hành vi vi Nhận thức kiểm soát hành vi Nguồn: Ajzen, 1991 2. Tiến trình ra quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng Khách hàng trải qua một quá trình mua sắm phức tạp khi họ đưa ra quyết định lựa chọn một dịch vụ phù hợp để thỏa mãn nhu cầu của họ.
Quá trình lựa chọn, sử dụng và đánh giá các dịch vụ ngân hàng thường bao gồm ba giai đoạn khác nhau: giai đoạn trước khi mua hàng, thực hiện dịch vụ và giai đoạn sau khi mua hàng. Giai đoạn lựa chọn mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm, nhận thức về nhu cầu: khi lựa chọn ngân hàng gửi tiền tiết kiệm thì khách hàng sẽ suy nghĩ làm sao để số tiền nhàn rỗi được tiết kiệm ở nơi an toàn nhất, sinh lời cao nhất? Đầu tư vào hạng mục nào là phù hợp nhất? Tại sao lại chọn ngân hàng này để gửi tiền mà không phải ngân hàng khác?