ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam đã có gần 100 năm nghiên cứu lai tạo bò thịt, bắt đầu từ đàn bò Sind đỏ (Red Sindhi) được nuôi tại các đồn điền của người Pháp, phát tán ra các vùng xung quanh hình thành con bò lai Sind. Bò có màu sắc đẹp, vóc dáng lớn hơn, thích nghi với điều kiện khí hậu nóng ẩm và chịu kham khổ tốt. Năm 1960 – 1970, kế hoạch Sind hoá đàn bò được khởi xướng. Năm 1980, chúng ta chủ động nhập bò Red Sindhi và Sahiwal để tạo bò lai.
Đến năm 2003, bò lai Zebu chiếm tới 30% tổng đàn bò, cung cấp nguồn gene quý cho những nghiên cứu lai kinh tế bò địa phương với giống bò thịt chuyên dụng. Từ những năm 1975, tinh các giống bò thịt ôn đới nổi tiếng như Brahman, Droughmaster, Charolais… đã được phối cho đàn bò lai Sind, cho ra đời các thế hệ F1 thể hiện khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện chăn nuôi còn khó khăn tại Việt Nam. Tuy nhiên, đàn bò lai F1 này vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng thịt bò ngày càng tăng của người dân. Trong 7 tháng đầu năm 2013, Việt Nam nhập khẩu khoảng 120.000 bò Úc, tăng hơn 50% so với cả năm 2012 (Hội chăn nuôi, 2015).
Do vậy, việc chọn lựa giống bò thịt chuyên dụng phù hợp để cải tạo đàn bò theo hướng tăng nhanh số lượng và tăng năng suất sản xuất thịt trên một đầu bò là cần thiết. Ở Việt Nam, công nghệ cấy truyền phôi đã được thực hiện tại Viện khoa học Việt Nam từ năm 1978 và ở Viện chăn nuôi từ năm 1989 (Nguyễn Đức Thạc và cs. Đến năm 1990, ca cấy phôi đầu tiên đã thành công bằng phương pháp cấy truyền phôi tươi in- vivo tại xí nghiệp bò Phù Đổng (Hoàng Kim Giao và cs. Tuy nhiên, các tác giả trước đây sử dụng phương pháp gây động dục đồng pha trên bò nhận phôi trước khi cấy truyền, kết hợp với khám lâm sàng qua trực tràng để đánh giá sự hình thành thể vàng, do rất nhiều bò nhận phôi có biểu hiện động dục nhưng không xảy ra hiện tượng rụng trứng, dẫn tới không hình thành thể vàng để tiết progesterone (hormone an thai), nên tỷ lệ cấy truyền phôi thành công còn thấp.
Do đó, chúng tôi đi tiến hành nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng Progesterone ngày thứ 6 sau động dục ở bò sữa phục vụ cấy truyền phôi” nhằm tăng tỷ lệ cấy truyền phôi thành công. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng progesterone ngày thứ 6 sau động dục để tăng tỷ lệ mang thai trong công nghệ cấy truyền phôi bò. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI Xây dựng tiêu chuẩn trong chọn lựa bò để nhận phôi, nâng cao hiệu quả cấy truyền phôi. Mở rộng ứng dụng công nghệ phôi trong phát triển và nhân nhanh đàn bò.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH LÝ SINH SẢN CỦA BÒ CÁI 2. Sự thành thục về tính Khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện, buồng trứng có noãn bào chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ thai, tử cung cũng phát triển theo và đủ điều kiện cho thai phát triển trong tử cung. Những dấu hiệu động dục xuất hiện đối với gia súc ở thời kì này gọi là thành thục về tính.
Trong thực tế, thành thục về tính xuất hiện trước khi thành thục về thể vóc. Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, thể trạng, ngoại cảnh, chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng. Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt thì sự sinh trưởng được thúc đẩy và thành thục về tính sẽ đến sớm hơn. Bò sữa thành thục về tính khi thể trọng đạt từ 30-40% thể trọng lúc trưởng thành, còn bò thịt thì mức độ cao hơn 45-50%.
Chu kỳ động dục Sau khi thành thục về tính, hiện tượng rụng trứng xảy ra. Mỗi lần rụng trứng có sự tham gia của nhiều loại hormone, các hormone này làm con vật có biểu hiện động dục. Các noãn bào trên buồng trứng gọi là nang Graff. Khi nang Graff vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng.
Trứng rụng có chu kỳ nên động dục cũng có chu kỳ, một chu kỳ động dục của bò thông thường là 21 ngày (giao động từ 18-24 ngày). Quá trình trứng phát triển đến chín và rụng đều chịu sự điều hoà chặt chẽ của hormone, do đó, nhiều nhà nghiên cứu đã phân chia chu kỳ động dục của bò thành 2 pha chính: Pha Folliculin: gồm toàn bộ biểu hiện trước khi rụng trứng. Pha Lutein: Là những biểu hiện sau khi rụng trứng và hình thành thể vàng. Trong chu kỳ sinh dục, ở các đường sinh dục của gia súc (ống dẫn trứng, tử cung, cổ tử cung và âm đạo) thấy có nhịp điệu tương ứng với các giai đoạn phát triển của noãn bao.
Thể vàng, buồng trứng tạo ra và điều khiển nhịp điệu ấy nhờ tiết hormone estrogen và progesterone. Estrogen do noãn bao đã thành thục tiết làm tăng thể tích các mao mạch nhỏ nhất trong niêm mạc đường sinh dục, từ đó làm tăng nguồn máu, kích thích sự phân chia tế bào trong nội mạc tử cung. Kết quả là giai đoạn đầu của chu kỳ, niêm mạc đường sinh dục có màu đỏ với mức độ ngày càng tăng, hơi phù và tế bào cơ tử cung lớn lên. 3 Sau khi estrogen kích thích tế bào niêm mạc, cổ tử cung tiết ra chất nhầy loãng chảy từ âm hộ ra ngoài cùng với niêm dịch âm đạo.
Estrogen tạo khả năng cho những quá trình phân chia và sinh trưởng tế bào rất nhanh trong biểu mô âm đạo. Estrogen được hấp thu vào máu còn tác động đến toàn bộ cơ thể, đặc biệt là thần kinh trung ương, làm thay đổi các hoạt động của gia súc cái như kém ăn, ngơ ngác, kêu rống, nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên và có tư thế chịu đực. Sau khi tế bào trứng rụng, những biểu hiện động dục do estrogen gây ra biến mất, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo ngừng tiết niêm dịch, chất nhầy chảy ra giảm. Cơ cổ tử cung hồi phục sức căng và dần đóng kín lại như cũ.
Niêm mạc âm đạo mất một phần khối lượng do nó sừng hóa tế bào biểu mô. Sau khi hình thành thể vàng, hormone progesterone sinh ra và ảnh hưởng tới đường sinh dục. Dưới tác dụng của progesterone niêm mạc tử cung đã được estrogen chuẩn bị trước, được tổ chức để tiếp nhận và nuôi dưỡng hợp tử. Biểu mô, nội mạc tử cung bắt đầu tăng lên và chứa nhiều nguyên liệu để hình thành chất tiết.
Các tuyến của nội mạc tử cung cũng bắt đầu lớn lên mạnh trở thành uốn khúc và bắt đầu tiết dịch khi thể vàng đạt được hoạt tính tối đa. Các chất tiết này sẽ được hợp tử hấp thu cho đến khi làm tổ. Ở bò chu kỳ động dục thường kéo dài 21 ngày, thời gian động dục thường kéo dài 25-36 giờ. Chu kỳ động dục của bò chia thành 4 giai đoạn là trước động dục, động dục, sau động dục và cân bằng sinh học.
Giai đoạn trước động dục (Pre-oestrus), đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục, noãn bao thành thục nổi rõ lên bề mặt của buồng trứng, buồng trứng to hơn bình thường, các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng sinh, số lượng lông nhung cũng tăng lên. Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng cường, mạch quản trong màng nhầy tử cung cũng tăng lên, các dịch nhầy ở âm đạo nhiều, niêm dịch cổ tử cung tiết ra kích thích cho cổ tử cung hé mở, các tuyến ở đường sinh dục tăng cường hoạt động. Giai đoạn này tính hưng phấn chưa cao, dần dần noãn bao chín tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn, bộ phận sinh dục phù thũng, niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều nhất, con vật bắt đầu xuất hiện tính dục. Những biến đổi này tạo điều kiện thuận lợi cho tinh trùng vào đường sinh dục cái để thụ tinh với tế bào trứng.
Giai đoạn này con vật bồn chồn, đi lại, đái rắt, kém ăn, nhảy lên con khác, âm hộ sưng nhẹ, xung huyết, bóng ướt, niêm dịch chảy ra nhiều, lỏng, trong suốt dễ đứt (kéo dài 1-2 cm). 4 Giai đoạn động dục (Oestrus): Khi gia súc xuất hiện tính dục, tế bào trứng đã tách khỏi noãn nang, toàn bộ cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục biểu hiện hàng loạt biến đổi về sinh lý. Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc sung huyết, niêm dịch trong suốt từ âm đạo chảy ra nhiều. Cuối giai đoạn này tính hưng phấn của con vật cao độ, gia súc ở trạng thái không yên tĩnh, ăn uống giảm rõ rệt, chạy, kêu rống, phá chuồng, đứng ngẩn ngơ, nhảy lên lưng con khác hay để con khác nhảy lên lưng, đái dắt, thích gần con đực, xuất hiện các tư thế của phản xạ giao phối, hai chân sau dạng ra, đuôi cong về một bên.
Các biểu hiện đó tạo điều kiện thuận lợi cho tế bào trứng được gặp tinh trùng để thụ tinh và phát triển hợp tử trong tử cung. Giai đoạn này nếu tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng và được thụ thai thì chu kỳ sinh dục sẽ dừng lại, gia súc cái ở giai đoạn có thai và đến một thời gian sau khi sinh đẻ xong chu kỳ tính mới xuất hiện trở lại. Trường hợp tế bào trứng không được thụ thai thì nó sẽ chuyển sang giai đoạn sau của chu kỳ. Giai đoạn sau động dục (Post-oestrus): Progesterone tác động lên hệ thần kinh trung ương và tuyến yên, lên trung khu sinh dục, làm thay đổi tính hưng phấn, kết thúc giai đoạn động dục.
Niêm mạc sinh dục như âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng cũng ngừng tăng sinh, tử cung cũng không tiết niêm dịch, các tế bào biểu mô dần dần bị sừng hóa, các biểu mô ở tầng nhầy bong ra, biểu mô hóa sừng trong âm đạo long dần ra để trở lại trạng thái bình thường, cổ tử cung đóng chặt lại. Ở giai đoạn này con vật còn chịu cho nhảy và phối giống (một thời gian ngắn), con vật ăn ít, âm hộ hết sưng. Giai đoạn cân bằng sinh học (An, Di-oestrus): Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc yên tĩnh hoàn toàn, hoạt động các cơ quan sinh dục không biểu hiện rất rõ rệt. Trong buồng trứng đã có thể vàng đã teo đi, noãn bao trong buồng trứng bắt đầu phát dục và lớn dần lên nhưng chưa nổi rõ lên bề mặt buồng trứng.